đặt vấn đề, tiến triển vấn đề cho đến khâu kết thúc vấn đề. Quan trọng là vậy, song có lẽ đối với cán bộ quản lý thì tầm quan trọng của nó sẽ đƣợc nhân lên gấp bội. Tầm quan trọng đó đƣợc thể hiện ở chỗ quản lý chính là ngƣời tạo ra sự thay đổi, quản lý chính là ngƣời nắm bắt thời cuộc, tạo ra việc làm và quản lý chính là ngƣời khuyến khích, thuyết phục ngƣời khác, tập hợp lực lƣợng để thực thi những công việc mà mình tạo ra. Vì vậy, kỹ năng quản lý là nhân tố sống còn đối với bất cứ ngƣời cán bộ quản lý nào.
Nhƣ phân tích ở trên, hành vi, thái độ là yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo sự sự thành công của mỗi con ngƣời. Đặc biệt đối với cán bộ quản lý thì tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa, của hành vi thái độ lại càng đƣợc nâng cao. Trong công tác quản lý hành vi, thái độ có thể đƣợc coi là ứng xử cấp trên đối với cấp dƣới đối với nhân dân, ứng xử đó đƣợc hình thành trên cơ sở quan niệm sống, tính cách, đạo đức, văn hóa của cán bộ quản lý, Ứng xử không đúng mực, quan niệm không tích cực, đạo đức văn hóa không lành mạnh chắc chắn sẽ dẫn đến một kết cục không lấy gì là tốt đẹp. Với vai trò là ngƣời đi đầu, vai trò là ngƣời cầm cân nảy mực, cán bộ quản lý càng phải công minh, chính trực và càng phải công tâm, trụ cột của mọi ngƣời.
Có nhƣ vậy thì hoạt động quản lý mới đạt kết quả cao. Bàn đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là bàn đến khả năng thực thi công cụ quản lý một cách hiệu quả. Năng lực đƣợc coi là tổng hợp các yếu tố tâm lý, sinh lý tạo cho con ngƣời hoàn thành một hoạt động nào đó có kết quả. Năng lực quản lý của cán bộ chủ chủ chốt chính quyền cơ sở chính là khả năng về thể chất và trí tuệ trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, năng lực đó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm, nhân cách, năng khiếu cá nhân,…Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở gồm: nhóm năng lực quản lý cơ bản (hay còn gọi là năng lực quản lý chung), nhóm năng lực quản lý chuyên biệt.
+ Nhóm năng lực cơ bản: Hoạch định (lập kế hoạch); Điều hành (tổ chức); Lãnh đạo và điều hòa, phối hợp hoạt động; Kiểm tra, giám sát. + Nhóm năng lực quản lý chuyên biệt: Năng lực hiểu pháp luật và áp dụng thực hiện đúng pháp luật; Năng lực phân tích, dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội; c 15 Năng lực giao tiếp ứng xử; Năng lực thuyết phục, động viên cấp dƣới; Năng lực giải quyết khiếu nại, tố cáo; Năng lực sử dụng nhân viên; Kỹ năng nói và viết; Kỹ năng ra quyết định. - Ngoài ra, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở cần một số yếu tố khác nhƣ: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, chế độ tiền lƣơng. Nhƣ vậy, tác giả cho rằng: "Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là khả năng biết vận dụng kiến thức và kinh nghiệm để thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình phù hợp với mục tiêu của tổ chức".
Các yếu tố cơ bản tạo nên năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở Hiệu quả của mỗi hoạt động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực, kỹ năng góp phần quan trọng để khẳng định cái “tôi” của mỗi cá nhân trong xã hội. Cùng đƣợc đào tạo chuyên môn, cùng một môi trƣờng công tác nhƣ nhau nhƣng họ khác nhau về phƣơng pháp làm việc, về cách thức đạt đƣợc kết quả dẫn tới hiệu quả công việc của họ rất khác nhau. Mỗi nghề cần có những yêu cầu về năng lực, kỹ năng đặc thù để thích ứng. Việc xác định những năng lực, kỹ năng cần thiết cho một nghề để từ đó đặt ra mục tiêu rèn luyện, phấn đấu, mặt khác để các nhà quản lý có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng những kiến thức, những kỹ năng còn chƣa đáp ứng yêu cầu công việc cho họ là một việc làm có ý nghĩa xã hội to lớn.
Năng lực là thƣớc đo khả năng thực hiện công việc, nó đƣợc tạo thành do sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp ngƣời đó thực hiện các vai trò và nhiệm vụ công việc đƣợc giao. Từ đó, chúng ta có thể rút ra kết luận sau đây: Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ Kiến thức: là sự hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức của mỗi ngƣời là tập hợp tất cả những gì thuộc về quy luật hoặc có tính quy luật của thế giới xung quanh đƣợc ngƣời đó thừa nhận. Kiến thức là một khái niệm rất rộng, tuy nhiên kiến thức có thể chia thành 03 mảng chính: (1) kiến thức chuyên môn, (2) kiến thức về văn hóa - xã hội, (3) kiến thức về khoa học tự nhiên - địa lý.
Kiến thức là điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên, những hiểu biết thu nhân đƣợc từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. Kiến thức chuyên môn (về quản lý) - khoa học quản lý (trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm cả khoa học pháp luật, hành chính, thông tin. tạo nên các năng lực về quản lý nói chung). Kỹ năng: Cho đến nay khái niệm kỹ năng với tƣ cách là khả năng biến kiến thức thành hành động đƣợc nhiều tác giả đồng ý là: "Khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức) và c 16 kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong đợi"; “là khả năng, sự thành thạo trong áp dụng các kỹ thuật, phƣơng pháp và công cụ để giải quyết công việc”.
Kỹ năng đối với ngƣời quản lý đƣợc hiểu là khả năng vận dụng một cách thuần thục những kiến thức, kinh nghiệm thu đƣợc của cá nhân trong lĩnh vực quản lý nhằm tăng hiệu quả, hiệu lực công việc. Một năng lực có thể bao gồm nhiều kỹ năng, kỹ năng đƣợc hình thành qua quá trình học hỏi, đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm. Kỹ năng cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho sự thành công đối với bất cứ một hoạt động quản lý nào. Kỹ năng chính là thâm niên, kỹ năng chính là kinh nghiệm và kỹ năng chính là mức độ thành thạo trong công tác quản lý.
Vì vậy kỹ năng về thực chất, chính là hiện thân của kiến thức và kỹ năng chính là biểu hiện cao nhất của việc vận dụng các kiến thức đã có vào thực tiễn. Bởi vậy, kỹ năng thành thạo ở mức độ cao sẽ trở thành phản xạ có điều kiện. Kỹ năng phản ánh năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ. Nghĩa là, đối với cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở, nếu biết vận dụng tốt các kỹ năng trong quản lý sẽ giải quyết tốt nhiệm vụ và hoạt động phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống địa phƣơng, làm tăng lòng tin của dân đối với cán bộ, đồng thời đó cũng là biểu hiện của cán bộ đã nắm vững pháp luật, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, hƣớng tới tính chất chuyên nghiệp.
Thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong không ít trƣờng hợp, do ngƣời cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở có kỹ năng hoạt động kém đã làm phức tạp thêm vấn đề, làm tăng mâu thuẫn trong nội bộ và gây ra những hậu quả đáng tiếc. Sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng sẽ không chọn vẹn nếu thiếu nhân tố thứ ba đó là: Thái độ, hành vi: Thái độ (còn gọi là tố chất) chính là quan điểm, ý thức, tính cách của mỗi một con ngƣời. Là khả năng làm chủ thái độ, hành vi, trạng thái tinh thần của bản thân trong giải quyết công việc nhằm đạt mục tiêu đặt ra. Nói cách khác, thái độ, hành vi chính là đạo đức, là văn hóa của con ngƣời.
Bởi vậy, hành vi, thái độ tích cực là nhân tố vô cùng quan trọng tạo nên năng lực thực sự và trọn vẹn cho bất cứ một cá nhân nào. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý thì thái độ đối với bản thân, với nền hành chính, với dân. Do đó có thể nói rằng hành vi, thái độ tích cực là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự thành công trong dài hạn, sự thành công bền vững. Nội dung đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở 1.
Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở đƣợc chia thành 2 nhóm: c 17 a. Nhóm năng lực quản lý cơ bản Hoạch định (lập kế hoạch): Là kỹ năng xác định con đƣờng, biện pháp, cách thức, thời gian, nguồn lực phù hợp để thực hiện tốt nhất mục tiêu đề ra, biết lựa chọn phƣơng án tối ƣu trong điều kiện có thể. Biết tính đến hoạt động nào là cần thiết và để đạt hiệu quả cao cần phải khai thác những nguồn lực và vật lực nhƣ thế nào. Điều này lại liên quan đến việc đánh giá đúng khả năng và biết phát huy sức mạnh của cá nhân và các nhóm dân cƣ trên địa bàn, muốn làm tốt công tác lập kế hoạch nhà quản lý cần phải có kiến thức và kỹ năng.
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý, là quá trình kết hợp đồng bộ nhiều mặt của tổ chức hành chính nhà nƣớc, đồng thời nó là cơ sở cho việc thực hiện các chức năng còn lại. Lập kế hoạch bao gồm ba hoạt động cơ bản: thứ nhất, xác định mục tiêu; thứ hai, xây dựng các kế hoạch hành động nhằm thực hiện mục tiêu; thứ ba, thẩm định và phê duyệt kế hoạch. Lập kế hoạch là một tiến trình xác định các mục tiêu nhiệm vụ và cách thức tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức hành chính nhà nƣớc. Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là ngƣời ra quyết định và toàn bộ bộ máy sẽ hành động theo quyết định đó.
Nghĩa là quyết định của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ảnh hƣởng rất lớn tới hoạt động của bộ máy. Một kế hoạch sai lầm rất có thể sẽ đƣa đến những hậu quả khó lƣờng.