Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cāu Chương 2: Cơ sá lí luận và thực tiễn về năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí bằng tiếng Anh và d¿y hác Vật lí bằng tiếng Anh theo tiếp cận M-learning á trưßng trung hác phổ thông. Chương 3: Bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí bằng tiếng Anh thông qua d¿y hác mát sá nái dung phần Đáng hác - Vật lí 10 theo tiếp cận M-learning. Chương 4: Thực nghiệm sư ph¿m 8 TäNG QUAN CÁC VÂN Đ NGHIÊN CĄU 1. Nghiên cąu và ngôn ngă, bãi d°éng nng ląc sā dāng ngôn ngă Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp phổ biến, quan tráng và hiệu quả nhất thông qua hệ tháng kí hiệu ngôn ngữ.
Ngôn ngữ bao gồm hai lo¿i là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói [16]. Lý thuyết này được Chomsky phát triển trong công trình <Những vấn đề lý luận cú pháp= (Aspects of the Theory of Syntax - 1965). Chomsky cho rằng: mục đích cÿa ngôn ngữ là giải thích các mái liên hệ giữa ngữ nghĩa với hệ tháng âm thanh cÿa ngôn ngữ đó [64]. Chomsky phân biệt giữa <ngữ hiện= (linguistic performance) và <ngữ năng= (linguistic competence) [63].
Ông cho rằng ngữ năng là những kiến thāc, hiểu biết cÿa con ngưßi về ngôn ngữ; ngữ hiện là những lßi nói, hành vi ngôn ngữ mà con ngưßi có thể diễn đ¿t trong những tình huáng giao tiếp khác nhau. Năng lực ngôn ngữ tiềm ẩn và chỉ có thể quan sát, đánh giá gián tiếp thông qua các hành vi ngôn ngữ trong các tình huáng cụ thể khác nhau. Chomsky (1957) đưa ra khái niệm <Chương trình tái giản= (Minimalist Program) để thay thế cho các khái niệm mà ông dùng từ trước như <ngữ hiện=, <ngữ năng=. Ông nêu lên sự khác nhau giữa ngôn ngữ nái t¿i (I-language) và ngôn ngữ ngo¿i t¿i (E-language [61]).
H¿n chế cÿa lý thuyết cÿa Chomsky về ngôn ngữ hác đó là: không thấy được sự kết nái cơ bản giữa giao tiếp và ngôn ngữ, giữa các hành đáng lßi nói và ngữ nghĩa. Nhiều nhà khoa hác đã áp dụng mô hình cÿa Halliday để phân tích các nghiên cāu trong lĩnh vực Vật lí và áp dụng nó vào quá trình giảng d¿y. Các nghiên cāu này đã chỉ ra rằng: HS trải qua quá trình tìm hiểu thuật ngữ và lác ngữ nghĩa giáng như các nhà nghiên cāu. Và đề xuất trong quá trình giảng d¿y, GV cần làm nổi bật các chāc năng cÿa từ vựng khoa hác và cấu trúc liên 9 kết giữa chúng, liên quan đến việc tiếp nhận "sự kiện" và các khái niệm khoa hác [133].
Nghiên cāu cÿa Halliday (2004) và Quílez (2019), tập trung vào chāc năng từ vựng được áp dụng trong nghiên cāu khoa hác để truyền đ¿t kiến thāc khoa hác mát cách hiệu quả và chính xác. Áp dụng vào việc d¿y hác VLBTA, những nghiên cāu này sẽ cung cấp gợi ý hữu ích để xây dựng tiêu chí và đánh giá hành vi về năng lực sử dụng ngôn ngữ VLBTA cÿa HS THPT. Vũ Thß Bình (2016) cho rằng <NL sử dụng ngôn ngữ (NN) là khả năng làm chÿ những kiến thāc, kỹ năng về NN để thực hiện hiệu quả các ho¿t đáng NN trong các bái cảnh cụ thể=. Tác giả cũng đề cập đến mát sá khái niệm liên quan đến năng lực giao tiếp toán hác, năng lực sử dụng ngôn ngữ toán hác, năng lực biểu diễn toán hác, và mái quan hệ giữa chúng [4].
Trong quan điểm cÿa Đß Hương Trà và Lê Ngác Diệp (2019), năng lực ngôn ngữ Vật lí bao gồm: năng lực giao tiếp Vật lí, năng lực biểu diễn Vật lí, và năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí. Năng lực giao tiếp Vật lí yêu cầu kiến thāc vững về Vật lí, năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí, và năng lực biểu diễn Vật lí [34]. Đặc điểm d¿y hác môn Vật lí liên quan đến các thí nghiệm khảo sát hoặc kiểm nghiệm lí thuyết. Harlow & Otero (2006) nhấn m¿nh rằng sự phát triển trong "diễn ngôn" Vật lí (tāc là sử dụng các thuật ngữ Vật lí) và quá trình hác các khái niệm, hiện tượng.
Vật lí là hai quá trình khác nhau nhưng l¿i có mái quan hệ chặt chẽ, nhằm đảm bảo sự hiểu biết và hác Vật lí mát cách hiệu quả. Trong hác tập VLBTA, luận án cho rằng việc hác các thuật ngữ và khái niệm Vật lí không chỉ là việc hác từ vựng mới, mà còn liên quan đến việc sử dụng các thuật ngữ, kiến thāc đã hác để diễn đ¿t l¿i những thuật ngữ và khái niệm mới [87]. Về việc bồi dưỡng và phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS, các nghiên cāu cÿa Chomsky (1995) đều nhấn m¿nh đến hai biện pháp cơ bản. Thā nhất, thông qua việc thực hiện các trải nghiệm khoa hác trong môi trưßng ngôn ngữ, HS sẽ tự nhiên phát triển kỹ năng ngôn ngữ cÿa mình.
Tác giả đánh giá cao khả năng tự nhận thāc cÿa mái HS trong việc phát triển khả năng ngôn ngữ cÿa bản thân. Tuy nhiên, đái với các ngôn ngữ khác ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ, quá trình hác ngôn ngữ cần sự hß trợ từ các môi trưßng ngôn ngữ để HS có thể trải nghiệm [63]. Biện pháp thā hai để 10 HS sử dụng thành th¿o và phát triển tát hơn các kỹ năng ngôn ngữ đó là: HS cần được tham gia vào tương tác và được rèn luyện mát cách chÿ đáng [113]. Tuy nhiên, việc hác theo xu hướng này có thể không đảm bảo việc HS phát triển đầy đÿ và toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ như đác, viết, nghe, nói [88, 157].
Luận án cho rằng trong quá trình giảng d¿y các môn khoa hác bằng tiếng Anh nói chung và VLBTA nói riêng, cả hai biện pháp trên có thể bổ sung cho nhau, đóng góp vào việc phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ VLBTA cÿa HS THPT. Ngoài ra, trong quá trình hác, HS còn gặp khó khăn khi trình bày, diễn đ¿t, tìm mái liên hệ và kết nái giữa các khái niệm Vật lí với nhau. Trong ho¿t đáng nghe và nói, GV cần tổ chāc các ho¿t đáng để t¿o cơ hái cho HS thực hiện các kỹ năng về hợp tác và giao tiếp. HS có thể hác tập và khám phá quan điểm khác nhau từ các b¿n hác, cũng như từ chính bản thân mình, thông qua các ho¿t đáng như thảo luận.
Ngoài ra, việc bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ thông qua kỹ năng viết cũng được nhấn m¿nh. GV có thể xây dựng mát hệ tháng thuật ngữ chuyên ngành để hß trợ HS rèn luyện kỹ năng viết. Đái với kỹ năng đác, GV đưa ra yêu cầu giúp HS đác tài liệu mát cách có đßnh hướng [84]. Công trình cÿa tác giả Lê Huy Hoàng (2018) chỉ ra các biện pháp rèn luyện ngôn ngữ hóa hác cho HS trung hác phổ thông và sinh viên sư ph¿m hóa hác, đồng thßi đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng cho HS qua 03 giai đo¿n và 07 bước [19].
Với đái tượng sinh viên sư ph¿m, việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa hác được lồng ghép vào quá trình hác tập các môn hác và tổ chāc các ho¿t đáng trải nghiệm theo quy trình 03 giai đo¿n, 09 bước [19]. Về đánh giá các kĩ năng đác, viết, nghe, nói cÿa sinh viên ngo¿i ngữ, nghiên cāu cÿa tác giả Đoàn Quang Trung (2019) đưa ra 04 nguyên tắc và 04 biện pháp để đánh giá năng lực ngôn ngữ cÿa sinh viên [36]. Tÿ các nghiên cąu này, có thể thấy tầm quan tráng cÿa việc rèn luyện và bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ trong quá trình hác các môn hác cho HS. Trong 11 việc d¿y hác VLBTA, HS có thể gặp những rào cản và khó khăn nhất đßnh.
GV cần tổ chāc các ho¿t đáng t¿o cơ hái cho HS được giao tiếp, hợp tác, rèn luyện và bồi dưỡng các kỹ năng nói, nghe, viết, đác bằng tiếng Anh trong các tình huáng hác tập khác nhau từ đó giúp HS phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ VLBTA cho HS. Nghiên cāu cÿa Nguyễn Thu Thÿy (2021) đề xuất quy trình và các biện pháp nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ giao tiếp trong d¿y hác ngo¿i ngữ theo hướng trải nghiệm với đái tượng HS trung hác phổ thông. Tác giả đưa ra 05 nhóm kỹ năng giao tiếp trong d¿y hác Ngo¿i ngữ theo hướng trải nghiệm và 20 kỹ năng bá phận [32]. Lê Ngác Diệp (2022) đã đưa ra 04 nguyên tắc và 04 biện pháp nhằm phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí cÿa HS phổ thông dân tác miền núi; đưa ra các năng lực thành phần và chỉ sá hành vi tương āng cÿa năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật lí gồm 12 chỉ sá [10].
Các tác giả cho rằng, để phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cần t¿o được bái cảnh hác tập phù hợp để HS có thể diễn đ¿t, trình bày kiến thāc, ý tưáng, lập luận. Để phát triển ngôn ngữ khoa hác, nghiên cāu cÿa phòng thí nghiệm Exploratorium cÿa Mỹ năm 2015 đã đưa ra các nguyên tắc và 2 biện pháp cơ bản [74- 76]. Các nguyên tắc đó là phát triển các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong quá trình hác các môn khoa hác, trong đó t¿o ra bái cảnh hác tập có chÿ ý, các cơ hái để HS rèn luyện các kỹ năng nói, nghe, viết, đác tiếng Anh khoa hác, sử dụng các đồ thß, kí hiệu, bảng, biểu đồ… giúp phát triển năng lực sử dụng NN khoa hác, tăng cưßng các ho¿t đáng tương tác, ho¿t đáng nhóm trong hác tập. Ngoài ra, phòng thí nghiệm Exploratorium cũng đề ra biện pháp phát triển ngôn ngữ KH là: viết KH và nói chuyện KH [74,75].
Nghiên cāu cÿa Lê Ngác Diệp (2022) phân tích các thành phần cÿa ngôn ngữ VL, các biểu hiện cơ bản cÿa ngôn ngữ VL trong quá trình hác tập cÿa HS, các đặc điểm cơ bản cÿa HS miền núi từ đó làm cơ sá đề xuất 04 nguyên tắc và 04 biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ VL. Tuy nhiên nghiên cāu còn chưa đánh giá được kỹ năng nói cÿa HS; đái tượng nghiên cāu chÿ yếu tập trung vào HS các tỉnh miền núi phía Bắc [10]. Nh° vÁy, các nghiên cāu đã đồng thuận về vai trò quan tráng cÿa ngôn ngữ trong quá trình giảng d¿y các môn khoa hác, đặc biệt là trong việc truyền đ¿t, diễn giải, thuyết minh và phát triển kiến thāc khoa hác. Sự āng dụng linh ho¿t các hình thāc khác nhau cÿa ngôn ngữ trong quá trình hác các môn khoa hác không chỉ làm 12 cho quá trình hác trá nên thú vß mà còn tăng cưßng hiệu quả hác tập [151].