CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH DOANH 1. Khái niệm và bản chất năng lực cung ứng 1. Khái niệm về năng lực cung ứng - Năng lực cung ứng là khả năng của doanh nghiệp trong quản trị và phối hợp các hoạt động hậu cần vật tư, sản xuất, nghiên cứu phát triển sản phẩm, vận chuyển đến khách hàng nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Bản chất và vai trò năng lực cung ứng 1.
Bản chất năng lực cung ứng - Năng lực cung ứng là sự kết hợp các năng lực khác nhau của doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hóa, dịch vụ. Hậu cần Tương tác Sản xuất Tương tác Marketing - Vận chuyển - Lập kế hoạch - Kiểm soát - Chất lượng - Phát triển sản - Dự trữ sản xuất chất lượng hình thức sản phẩm - Thông tin - Định vị doanh - Lập kế hoạch phẩm - Nghiên cứu thị hậu cần nghiệp SX - Nhu cầu khách trường - Xử lý đơn - Mua hàng - Hoạch định hàng - Kênh phân hàng công suất - Hoạch định phối - Giao nhận - Điều hành công suất - Bán hàng hàng hóa tác nghiệp Tương tác - Tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng - Định giá - Đóng gói Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ tương tác giữa Hậu cần – Sản xuất – Marketing Nguồn: Giáo trình Quản trị hậu cần, NXB ĐH KTQD, 2012 Mô hình chỉ ra rằng giữa các hoạt động cung ứng của doanh nghiệp đều có sự giao thoa, có tính đan xen. Marketing sẽ có trách nhiệm chủ yếu trong nghiên cứu thị trường, xúc tiến bán, phát triển sản phẩm. nhằm tạo ra giá trị sở hữu; còn sản xuất/vận hành có liên quan đến việc tạo ra sản phẩm, tạo ra giá trị cấu thành trong sản phẩm.
Sản xuất/vận hành có trách nhiệm chủ yếu là kiểm soát chất lượng, lập kế hoạch và tác nghiệp sản xuất, hoạch định công suất, duy trì năng lực sản xuất, đo lường và tiêu chuẩn công việc. Hậu cần có liên quan đến việc tạo cho sản phẩm hay dịch vụ giá trị thời gian và địa điểm. Cần có sự phối hợp các hoạt động để tạo ra giá trị cao nhất cho sản phẩm, do đó, năng lực cung ứng không chỉ là một năng lực riêng theo chức năng của doanh nghiệp. - Năng lực cung ứng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng với tối thiểu chi phí.
Một trong những vấn đề quan trọng đối với nhà sản xuất là làm thế nào để bán hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng với giá thành thấp nhất nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Giá bán của hàng hóa đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí: G ≥ C1 + C2 + C3 + C4 + C5 (1) Trong đó : C1: giá thành sản xuất ra hàng hóa. C2: chi phí hoạt động marketing C3: chi phí vận tải C4: chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ C5: chi phí bảo quản hàng hóa. Ở công thức (1), C1 phụ thuộc vào công nghệ sản xuất.
Vì vậy muốn hạ giá thành xuất xưởng của sản phẩm, người ta tập trung vào việc cải tiến công nghệ, bao gồm hợp lý hóa dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất của máy móc, thiết bị, lao động, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, năng lượng… Chi phí cho hoạt động Marketing, trong đó bao gồm chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm, C2 thường được nhà sản xuất ấn định ở mức độ nhất định nào đó và có thể kiểm soát dễ dàng. Chi phí vận tải C3 chiếm một tỷ trọng khá lớn – một phần ba cho đến hai phần ba chi phí lưu thông phân phối, chi phí vận tải vẫn không ngừng tăng lên do giá nhiên liệu ngày một leo thang. Điều này buộc các nhà sản xuất áp dụng nhiều biện pháp góp phần giảm chi phí vận tải. Chi phí cơ hội vốn C4 là suất sinh lời tối thiểu mà công ty kiếm được khi vốn không đầu tư cho hàng tồn trữ mà cho một hoạt động khác.
Khi thị trường tiêu thụ được mở rộng, số lượng sản phẩm nhiều lên, mức lãi suất vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng chí phí liên quan đến hàng tồn trữ. Điều này buộc các nhà sản xuất phải có giải pháp thích hợp để giảm chi phí này. Chi phí bảo quản hàng hóa C5 bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quản hàng hóa, đưa hàng hóa ra vào kho, hàng bị hư hỏng, bảo hiểm cho hàng hóa. - Năng lực cung ứng có thể xuất phát từ tận dụng các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp.
Các nguồn lực doanh nghiệp có thể tận dụng như: Năng lực nhà cung cấp; Năng lực hãng vận chuyển thuê ngoài; Năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm chung của ngành. Bằng cách khai thác tối đa các nguồn lực kể trên, doanh nghiệp tạo ra ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Vai trò năng lực cung ứng Sản phẩm sẽ không có giá trị nếu không phục vụ đúng nhu cầu khách hàng và đảm bảo đúng nơi, đúng lúc họ muốn tiêu dùng. - Sử dụng hiệu quả chi phí cung ứng nói riêng và chi phí kinh doanh nói chung Đối với doanh nghiệp có năng lực cung ứng, điểm tối ưu là các hoạt động được vận hành nhịp nhàng, có khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng ở mức cao nhất với chi phí vận hành thấp nhất.
Đồng thời, nó phải có hệ thống thông tin được tổ chức khoa học và cập nhật thường xuyên để giúp các bộ phận phối hợp ăn ý với nhau nhằm phản ứng nhanh nhạy với những biến động thường xuyên và liên tục của môi trường kinh doanh. Khả năng cung ứng tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp thu hút thêm nhiều khách hàng, gia tăng thị phần, tiết kiệm chi phí, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận.1: Tỷ lệ chi phí phân phối trung bình trong doanh thu Loại chí phí % so với doanh thu Vận chuyển 2,88 Dự trữ 2,09 Dịch vụ khách hàng/xử lý đơn hàng 0,55 Chi phí hành chính 0,40 Chi phí vận chuyển hàng dữ trữ 2,32 Tổng chi phí phân phối 8,01% Nguồn: Giáo trình Quản trị hậu cần, NXB ĐH KTQD, 2012 Đối với mỗi doanh nghiệp, riêng chi phí hậu cần có thể chiếm từ 4 - 30% doanh thu.1 cho kết quả chi phí phân phối hàng hóa chiếm khoảng 8% doanh thu, nhưng nếu tính cả chi phí cung ứng, có thể chiếm thêm 1/3 mức này. Điều này dẫn đến chi phí cung ứng trung bình chiếm khoảng 10.5% so với doanh thu. Giá trị được tạo ra bằng cách tối thiểu hóa chi phí đều có lợi cho tiêu dùng và cho chính bản thân doanh nghiệp.
- Là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp tiêu tốn một khối lượng lớn thời gian để tìm cách tạo ra sự khác biệt trong việc cung ứng sản phẩm của mình so với các đổi thủ cạnh tranh. Khi nhà quản trị nhận thấy hoạt động cung ứng có ảnh hưởng đến một phần đáng kể chi phí của doanh nghiệp, cũng như kết quả của các quyết định trong quá trình cung ứng tạo ra các mức độ dịch vụ khách hàng khác nhau, thì năng lực cung ứng sẽ quyết định đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp - Tăng giá trị sản phẩm và đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng Một sản phẩm và dịch vụ sẽ có rất ít giá trị, nếu không phù hợp với nhu cầu, sẵn có cho khách hàng vào thời điểm và địa điểm họ tiêu dùng. Doanh nghiệp có năng lực cung ứng sẽ tạo ra giá trị đối với khách hàng mà trước đó doanh nghiệp chưa có được. Về cơ bản, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra bốn loại giá trị trong sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng cần đến: + Giá trị cấu thành: giá trị cơ cấu tạo ra trong quá trình nghiên cứu và trong sản xuất.
+ Giá trị thời gian + Giá trị địa điểm hai giá trị được tạo ra trong vận chuyển, giao nhận, luồng thông tin hậu cần, xử lý đơn hàng và hoạt động dự trữ. + Giá trị sở hữu tạo ra thông qua hoạt động Marketing. Như vậy, hoạt động cung ứng góp mặt trong ba trên tổng bốn loại giá trị nói trên (trừ giá trị sở hữu). Nội dung năng lực cung ứng 1.
Năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm Việc thiết kế sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Dưới góc độ cung ứng, năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong đáp ứng những sự thay đổi xu hướng và nhu cầu khách hàng. Năng lực nghiên cứu sản phẩm Ý nghĩ về một sản phẩm hay dịch vụ có thể bắt đầu từ nhiều nguồn: khách hŕng, nhà quản lý, nhân viên tiếp thị hay từ ngành cơ khí. Năng lực nghiên cứu sản phẩm là khả năng thực hiện các công việc sau: - Nghiên cứu cơ bản (những kiến thức khoa học tổng quát với mục tiêu phi thương mại).
Sự nỗ lực được hướng trước hết vào tìm hiểu những qui luật của tự nhiên hay nghiên cứu lý thuyết đã được công nhận với mục đích phát triển kiến thức mới. - Nghiên cứu ứng dụng (các kiến thức tổng quát về mục tiêu thương mại). Nghiên cứu ứng dụng thường sử dụng những kết quả nghiên cứu cơ bản. Trong bất kỳ trường hợp nào, những nỗ lực nghiên cứu ứng dụng muốn thành công đều cần đến một kho tàng những phát kiến nghiên cứu cơ bản.
- Thiết kế và phát triển sản phẩm mới hay dịch vụ mới cùng qui trình sản xuất. Với mục tiêu là đảm bảo cho công ty luôn thịnh vượng bằng cách tìm ra những ý tưởng về sản phẩm mới có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng hiện tại và tương lai. Năng lực thiết kế và phát triển sản phẩm a) Năng lực thiết kế sản phẩm Tổ chức thiết kế sản phẩm là một giai đoạn quan trọng trong quá trình tạo ra những sản phẩm, công nghệ mới để đưa vào sản xuất kinh doanh cũng như đưa nó vào khai thác có tính chất thương mại. Bao gồm toàn bộ hoạt động tổ chức, phối hợp nhằm xác định những mục tiêu, tạo ra những điều kiện và mối quan hệ cần thiết để có được sản phẩm và công nghệ mới.
Năng lực thiết kế và phát triển sản phẩm là khả năng thực hiện và tổ chức các hoạt động này bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu, thiết kế thường xuyên và những nghiên cứu cụ thể.