Chương 1; Thông tư số: 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã, phường, thị trấn như sau: + Độ tuổi từ 18 trở lên + Trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông + Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm. + Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên. + Tiếng dân tộc thiểu số: ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ phải hiểu biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó nếu khi tuyển dụng chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công. + Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã đảm nhiệm.
11 Luan van Ngoài các tiêu chí trên, người dự tuyển phải đạt tiêu chuẩn cụ thể tương ứng với chức danh công tác. Quy định cụ thể với công chức Văn phòng - thống kê như sau: + Độ tuổi không quá 35 khi tuyển dụng lần đầu + Học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông với khu vực đồng bằng và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên với khu vực miền núi. + Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên + Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp hành chính, trung cấp luật trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên, nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn trên.
Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước (nếu chưa qua trong bồi dưỡng cấp hành chính) ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn. Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã Công chức Văn phòng – thống kê tham mưu giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Công chức Văn phòng – thống kê có nhiệm vụ bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động quản lý Nhà nước cấp xã, với hai công tác chủ đạo là công tác “văn phòng” và công tác “thống kê”. Theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác văn phòng – thống kê ở các xã hiện nay, công chức Văn phòng – thống kê cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau: + Giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và 12 Luan van theo dõi thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; tổng hợp báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, tham mưu giúp UBND trong việc chỉ đạo thực hiện.
Công chức Văn phòng – thống kê giúp UBND cấp xã tổ chức công tác thông tin và xử lý thông tin; phản ánh thường xuyên, kịp thời, chính xác tình hình các mặt công tác của địa phương. Công tác thông tin phải phục vụ đắc lực cho sự quản lý, chỉ đạo của UBND cấp xã và việc giám sát của HĐND. Công tác bảo đảm thông tin của văn phòng tập trung vào các nội dung chủ yếu như: Tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, tình hình mọi mặt biến động của địa phương. Trên cơ sở quản lý thông tin, công chức Văn phòng – thống kê làm báo cáo tổng hợp kinh tế - xã hội của địa phương trình lãnh đạo UBND ký, ban hành.
+ Giúp UBND xã dự thảo và trình cấp có thẩm quyền, làm báo cáo gửi lên cấp trên. Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ công chức Văn phòng – thống kê của UBND xã chủ động xây dựng chương trình, trình Chủ tịch UBND ký, ban hành. Sau khi chương trình công tác được ban hành, văn phòng có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND xã tổ chức thực hiện. Ngoài chương trình công tác nhiệm kỳ, tháng, quý, năm, văn phòng còn có trách nhiệm xây dựng lịch công tác tuần của Ủy ban, tổ chức cuộc họp giao ban hàng tuần của Chủ tịch và Phó chủ tịch Ủy ban, + Giúp HĐND tổ chức kỳ họp, giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp khách, nhận đơn khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND và UBND hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết.
+ Quản lý công văn, sổ sách, giấy tờ, quản lý việc lập hồ sơ lưu trữ, biểu báo cáo thống kê; theo dõi biến động số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã. Công tác văn thư lưu trữ của UBND cấp xã bao gồm: quản lý và giải quyết văn bản đi; quản lý và giải quyết văn bản đến; quản lý và sử dụng con 13 Luan van dấu; lập hồ sơ và nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan Ủy ban; thu thập, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban theo pháp luật. + Giúp UBND về công tác thi đua khen thưởng ở cấp xã. Căn cứ vào văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước cấp trên, công chức Văn phòng – thống kê có trách nhiệm giúp UBND tổ chức thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong cơ quan Ủy ban và trong địa phương; tổ chức hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến; làm thủ tục đề nghị Ủy ban khen thưởng theo thẩm quyền hoặc Ủy ban đề nghị lên cấp trên khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua.
+ Giúp HĐND và UBND thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu HĐND và UBND theo quy định của pháp luật và công tác được giao. Đặc trưng của công chức Văn phòng – thống kê các xã ở miền núi Công chức cấp xã nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng đều là một bộ phận rất quan trọng nằm trong bộ máy chính quyền của UBND xã, đơn vị cuối cùng trong hệ thống hành chính quốc gia trực tiếp gắn bó với dân, mọi chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều phụ thuộc vào khả năng tổ chức, triển khai và thực thi của UBND cấp xã, mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức trong đó có công chức Văn phòng – thống kê. Đây là đặc điểm quan trọng nhất chi phối đến hoạt động của công chức nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng. Công chức Văn phòng – thống kê là lực lượng hoạt động chuyên môn tương đối độc lập được phân công theo chức trách, nhiệm vụ mang tính chuyên môn sâu nên rất cần đến các phẩm chất kiên trì, bền bỉ, năng động, nhạy bén và kỹ năng xử lý công việc chính xác để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên vừa làm tốt chức năng tham mưu, quản lý cho UBND.
14 Luan van Việc thực thi công vụ của công chức nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, của ngành nghề và các quy định của UBND cấp xã nơi trực tiếp quản lý, điều hành công việc hàng ngày. Đặc biệt là chức năng, nhiệm vụ thuộc chuyên môn của mình về công tác văn phòng và thống kê. Mặt khác để làm tốt chức năng tham mưu cho UBND về lĩnh vực chuyên môn của mình công chức Văn phòng – thống kê phải luôn bám sát địa bàn hoạt động gần dân, sát dân, sát công việc nắm chắc tình hình, phản ánh kịp thời chính xác cho UBND xã đồng thời cùng với các bộ phận khác xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện đường lối chủ trương chính sách có hiệu quả ở địa phương và làm tốt chức năng quản lý Nhà nước theo chức trách được phân công. Đặc thù hoạt động của công chức Văn phòng – thống kê ở địa bàn các xã miền núi thường gặp phải khó khăn trong việc đi cơ sở nắm tình hình, việc tiếp xúc với dân không thuần nhất và thuận lợi như các xã đồng bằng do đặc điểm dân cư và các dân tộc đan xen khác nhau, nhất là về mặt tâm lý, tập quán, nhận thức.
nên đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao trong quá trình thực thi công vụ. Hầu hết công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi đều là người địa phương nên có sự am hiểu, gắn bó mật thiết với người dân. Trình độ chuyên môn, năng lực của đội ngũ công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi chưa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chủ yếu vẫn là trình độ trung cấp, một số ít là sơ cấp và chưa qua đào tạo. Từ những đặc trưng trên của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi đặt ra việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức này.
Hơn nữa cần có sự quan tâm, sâu sát của các cấp chính quyền địa phương hơn nữa để có thể phát huy năng lực của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi một cách tốt nhất. Năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 1. Khái niệm năng lực Trong hoạt động con người luôn hướng toàn bộ sức lực, tinh thần của mình vào nhằm đạt kết quả cao trong hoạt động. Có thể nói gần như toàn bộ những phẩm chất tâm lý, sinh lý của cá nhân đều góp phần tạo nên kết quả ấy.
Năng lực không phải là những phẩm chất tâm lý, sinh lý riêng lẻ của một cá nhân, cũng không phải phép cộng đơn giản mà tổng hợp những đặc điểm tâm lý, sinh lý đảm bảo cho cá nhân đạt kết quả cao trong công việc. Có thể điểm qua một số quan niệm tiếp cận nghiên cứu năng lực như: quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít: “Năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân đáp ứng với những yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động ấy nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao”[14, tr296].