Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã. Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã trên địa bàn Thành Phố Thái Nguyên giai đoạn hiện nay. Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN HÓA - XÃ HỘI CẤP XÃ 1.
Công chức Văn hóa - xã hội cấp xã và năng lực thực thi công vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã 1. Chức trách, nhiệm vụ và đặc điểm của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã 1. Khái niệm công chức Văn hóa - xã hội cấp xã Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo các cách tiếp cận khác nhau, có thể đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ đó.
Ở Việt nam, trải qua một thời gian dài trước khi có Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức. Có khi khi người ta sử dụng cả cụm từ “cán bộ; công chức; viên chức” để chỉ chung những người làm việc trong cơ quan của Đảng và nhà nước và các tổ chức xã hội. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức và viên chức chưa thể hiện được những điểm khác nhau giữa các nhóm, chưa gắn với đặc điểm và tính chất hoạt động khác nhau của cán bộ, công chức và viên chức. Vấn đề làm rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức”; “ viên chức” được coi là vấn đề cơ bản, quan trọng, là một nhu cầu cần thiết xuất phát từ thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiện nay.
Trong Luật công chức năm 2008 đã giải quyết tương đối triệt để và khoa học, phù hợp với lịch sử hình thành đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn quản lý của Việt Nam; đội ngũ công chức; đội ngũ viên Luan van 9 chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước. Một trong những điểm mới về cán bộ, công chức trong Luật cán bộ, công chức năm 2008 là có sự phân biệt giữa khái niệm cán bộ công chức nói chung và cán bộ, công chức cơ sở nói riêng. Đây là căn cứ để tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Theo khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức, quy định: “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Theo đó, công chức cấp xã phải có những điều kiện sau: - Là công dân Việt Nam. - Được tuyển dụng thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển vào một vị trí chuyên môn cụ thể thuộc UBND cấp xã. - Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Điều 1 Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ: “Công chức xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.” Căn cứ vào Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã chỉ rõ công chức cấp xã gồm có 7 chức danh sau: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng - thống kê; Luan van 10 - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hoá - xã hội.
Như vậy công chức Văn hóa - xã hội cấp xã là một trong 7 chức danh công chức cấp xã theo quy đinh của pháp luật. Cấp xã là thuật ngữ được dùng để chỉ đơn vị chính quyền cơ sở trong bộ máy nhà nước bao gồm có xã, phường, Thị trấn, nên công công chức Văn hóa - xã hội cấp xã là thuật ngữ được dùng cho công chức làm công tác Văn hóa- xã hội ở xã, phường và thị trấn. Chức trách, nhiệm vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã Chức trách, nhiệm vụ cụ thể của công chức Văn hóa- xã hội cấp xã đã được quy định rõ tại điều 9 của Thông tư 06/2012/TT_BNV như sau: - Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật. - Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau: + Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã; + Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương; + Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính Luan van 11 sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã; + Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Đặc điểm của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã Thứ nhất, công chức Văn hóa - xã hội cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực Văn hóa - xã hội đều được đội ngũ công chức Văn hóa - xã hội cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành. Thứ hai, công chức Văn hóa - xã hội cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở địa phương, thường hội tụ đủ các vai trò khác nhau mà họ phải thể hiện như: công dân; đồng hương, bà con, họ hàng; người đại diện của cộng đồng; đại diện cho Nhà nước.
Họ là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế, giáo dục, chính sách bảo trợ… trên địa bàn địa phương. Đây là vấn đề gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân địa phương nên về cơ bản họ luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân,từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân. Thứ ba, Công chức Văn hóa -xã hội thường được điều chuyển từ cán bộ các đoàn thể nhân dân (đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội phụ nữ xã…) nên tính ổn định thấp hơn so với công chức nhà nước cấp trên. Luan van 12 Thứ tư, Công chức Văn hóa - xã hội có tính chuyên môn hóa thấp, đồng thời họ thường phải kiêm nghiệm nhiều công việc khác nhau.
Họ là những người xuất phát từ cơ sở, nên xét một khía cạnh nào đó họ dễ bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê của địa phương, dòng họ. Nhìn chung so với một số chức danh khác, công chức Văn hóa - xã hội cấp cơ sở ở nước ta có trình độ thấp hơn, chất lượng yếu hơn; độ tuổi tương đối già. Đó chính là những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không được cao. Năng lực thực thi công vụ và các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức Văn hóa - xã hội cấp xã 1.
Khái niệm năng lực Năng lực có nguồn gốc từ tiếng la tinh là Ability được hiểu là: “khả năng làm việc tốt”. Đây là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học, quản lý cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan, hoặc tự nhiên, sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” [5/687]; là: “Phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Cụ thể hơn trong cuốn Thuật ngữ hành chính của Viện Nghiên cứu Khoa học Hành chính thuộc Học viện Hành chính tái bản năm 2009 định nghĩa năng lực là: “Khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội, nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do nhà nước hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất”.
Các khái niệm nêu trên đều đề cập đến khả năng thực hiện của một cá nhân hoặc tập thể có tổ chức đối với một công việc hay nhiều công việc do Luan van 13 mình đặt ra hay do chủ thể khác ấn định. Theo Từ điển tiếng Việt, khả năng là: “Cái vốn có về vật chất, hoặc tinh thần, để có thể làm được việc gì” [5/512].