CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa trách nhiệm trong thực thi công vụ trong nước Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan về văn hóa và văn hóa trách nhiệm trong thực thi công vụ nghiên cứu sinh nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu về địa hạt này khá đồ sộ. Để xem xét các vấn đề một cách logic và mạch lạc, nghiên cứu sinh chia các xu hướng nghiên cứu gồm: thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm công vụ của CBCC; thực trạng thực hiện trách nhiệm công vụ; nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm công vụ và các giải pháp nâng cao trách nhiệm công vụ của CBCC. Nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức Các tác giả đã phân tích các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến trách nhiệm công vụ của CBCC và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của những quy định đó.
Bài viết của Phạm Thị Hương (2016) đã điểm lại một số quy định của pháp luật về trách nhiệm và nghĩa vụ của CBCC, những hành vi mà cán bộ công chức không được làm, những hình phạt dành cho họ nếu vi phạm. Các Luật được liệt kê trong bài viết là Luật CBCC năm 2008; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Bộ Luật Hình sự năm 2015 Bài viết cũng đã nêu ra các đức tính cần có của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân như: lòng trung thành; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Luật CBCC còn đề cập đến nghĩa vụ của CBCC khi thi hành công luan an 11 vụ, đó là: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; Chấp hành quyết định của cấp trên. Bên cạnh đó, nghĩa vụ của những người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là nội dung quan trọng trong Luật, nhấn mạnh việc chịu trách nhiệm về kết quả của cơ quan mình phụ trách; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn thi hành công vụ; Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh CBCC thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân.
Liên quan đến đạo đức công vụ, CBCC phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và phải tuân thủ các quy định về văn hóa giao tiếp ở công sở và văn hóa giao tiếp với nhân dân. Ngoài ra, bài viết đã liệt kê một số việc CBCC không được làm như: trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức. Đối với các hình thức xử phạt CBCC khi vi phạm các điều không được làm, Luật Cán bộ, công chức; Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước và Bộ luật Hình sự đã có những quy định cụ thể. Trước hết Luật Cán bộ, công chức quy định các luan an 12 hình phạt cho CBCC như: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm.
Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bộ luật Hình sự quy định tại Điều 285 như sau: (1) Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144 (Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước), Điều 235 (Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng) và Điều 301 (Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn) của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. (2) Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. Sau khi đánh giá thực trạng các loại trách nhiệm của công chức, Nguyễn Minh Đoan (2014) cho rằng cần làm rõ nội dung các loại trách nhiệm pháp lý bằng các quy định pháp luật, nội dung các loại hình trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào, đặc biệt chú trọng trách nhiệm cá nhân; cần quy định chặt chẽ trách nhiệm chính trị và trách nhiệm công vụ của công chức bên cạnh các loại hình trách nhiệm pháp lý tiêu cực [25].
Tác giả Lê Như Thanh (2009) phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về nghĩa vụ, quyền và trách nhiệm của công chức ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế của pháp luật và quá trình thực hiện các quy định luan an 13 đó. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng các quy định về nghĩa vụ, quyền, trách nhiệm công chức thể hiện trong hệ thống văn bản pháp luật ở Việt Nam chậm đổi mới, mang tính hình thức, bất cập về sự tương thích giữa quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức [80]. Theo Thái Thị Phương Lan (2019), Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết nâng cao chất lượng đội ngũ công chức theo định hướng thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ; phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu theo định hướng phải có tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, phải có trách nhiệm với nhân dân; nâng cao chất lượng công chức phải gắn liền với đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở thông qua những hoạt động quản lý công chức; triển khai thực hiện tốt chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức; phối hợp công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của công chức trong TTCV [55]. Bài viết của Vũ Thị Phụng (2015) đã nhìn lại những quy định về giao tiếp, ứng xử của CBCC trong TTCV.
Một số quy định liên quan đến giao tiếp, ứng xử của CBCC như Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan HCNN được Chính phủ ban hành vào ngày 02/08/2007; Luật phòng, chống tham nhũng 2005; Luật Cán bộ, Công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Các quy định đã nêu rõ những việc cán bộ, công chức phải làm và không được làm; Các chuẩn mực hành vi giao tiếp ứng xử của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ (bao gồm thái độ, tác phong, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ và trang phục). Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong các quy định về giao tiếp, ứng xử như: số lượng các văn bản của các cơ quan tương đối nhiều nhưng thiếu tập trung, thống nhất; trong các văn bản có nhiều nội dung trùng lặp và chồng chéo; Các quy định chủ yếu chỉ là những nguyên tắc, những yêu cầu cơ bản, tính cụ thể chưa cao nên khó thực hiện và xử lý vi phạm; chế tài của các quy định lại chưa rõ ràng và chưa đủ mạnh nên việc xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [74]. luan an 14 Hoàng Thị Giang (2015) đã điểm lại pháp luật về đánh giá cán bộ công chức ở nước ta và chỉ ra Luật Cán bộ, Công chức (2008) có quy định về việc đánh giá cán bộ, công chức từ Điều 55 đến Điều 58 nhằm làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức. Công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau: Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức. CBCC được phân loại theo các mức: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ; không hoàn thành nhiệm vụ. Văn bản hướng dẫn chi tiết nội dung đánh giá CBCC là Nghị định số 56/2015/NĐ-CP và đối với cán bộ công chức là lãnh đạo và là đảng viên được đánh giá theo Quyết định số 286/QĐ-TW ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế đánh giá công chức [26].
Đặc điểm của trách nhiệm công vụ: Tác giả Ngô Thành Can (2014) trình bày về đặc điểm văn hóa công vụ ở các lớp khác nhau (lớp ngoài cùng, lớp giữa và lớp trong cùng - là các giá trị cốt lõi) và những giá trị cơ bản của văn hóa công vụ gồm: tính chuyên nghiệp, tính trách nhiệm, tính trung thực và khách quan, tính minh bạch, tính hiệu lực, hiệu quả, tính phục vụ [16].