Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Năng lực, công vụ, công chức cấp xã 1. Khái niệm năng lực: Năng lực của con người nói chung được sử dụng ở nhiều phương diện như: năng lực công tác, năng lực sản xuất, năng lực thực thi công vụ, năng lực quản lý điều hành, năng lực kiểm soát…khi nghiên cứu về năng lực có nhiều cách hiểu khác nhau: - Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì năng lực được hiểu là “khả năng làm việc tốt” [36]. - Theo đại từ điển Tiếng Việt nhà xuất bản Văn hóa thông tin thì năng lực hiểu theo hai nghĩa: một là, năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì (ví dụ: năng lực tư duy của con người); hai là, năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc (ví dụ, có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức).
- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có [37, tr2]. Các nhà nghiên cứu lí thuyết chia năng lực thành: năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chung là năng lực đối với các dạng hoạt động chung của đời sống con người, mọi người đều có ở những mức độ khác nhau.
Năng lực riêng là năng lực để thực hiện một công việc, nhiệm vụ nhất định nào đó và thường được gọi là năng lực nghề nghiệp. 7 Luan van Mặc dù có nhiều cách hiểu về thuật ngữ ''Năng lực'' nhưng một quan niệm chung được nhiều tác giả tán đồng là: ''Tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một cá nhân thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở cấp độ hiệu suất nhất định'' [1]. Như vậy có thể định nghĩa năng lực: ''Năng lực là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, và có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển'' [30, tr59]. Sơ đồ1 Nguồn: http://www.
Khái niệm công vụ cấp xã. Theo Từ điển Tiếng việt, công vụ được hiểu là “việc công”, theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì công vụ được hiểu là “hoạt động do cán bộ, viên chức, quân nhân tiến hành nằm thực hiện các nhiệm vụ được giao”. Trong một số tài liệu, thuật ngữ công vụ được hiểu theo một số cách sau: - Công vụ là hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện ý chí của nhân dân. - Công vụ là quy chế, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý xã hội theo mục tiêu đã vạch ra.
8 Luan van - Công vụ là một hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước (quyền lực công). - Công vụ là loại lao động mang tính quyền lực, pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của Nhà nước. - Công vụ là hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức trong các công sở nhằm giải quyết quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với công dân. Hoạt động công vụ bao gồm: tổ chức công sở, trách nhiệm của công chức khi thi hành công vụ, quan hệ trong công vụ, thủ tục hành chính [14, tr17].
Công vụ cũng có thể hiểu theo một cách khác. Đó là nhiệm vụ của khu vực công; là nhiệm vụ và là trách nhiệm của Nhà nước.Trước đây rất nhiều nhiệm vụ, trách nhiệm công do Nhà nước đảm nhận, thực hiện việc cung cấp các loại dịch vụ công. Trong xu hướng chung, các loại nhiệm vụ, trách nhiệm của Nhà nước đang dần chuyển một phần sang cho các khu vực khác. Do đó, công vụ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là chỉ những công việc công do Nhà nước phải đảm nhận thực hiện hoặc có trách nhiệm thực hiện (cung cấp tài chính, chính sách,.
Còn những công việc trước đây do Nhà nước làm nay chuyển cho các khu vực khác, thì không thuộc phạm trù công vụ. Với nhiều nước, quan niệm công vụ của các nước thường không như nhau, nhìn chung thường là cho rằng đó là hoạt động của cơ quan công quyền, có nơi công vụ không tính đến khu vực lập pháp, tư pháp, quân đội, hay hoạt động của các tổ chức chính trị hay chính trị - xã hội là việc riêng của các tổ chức đó, không nằm trong phạm trù công vụ. Quan niệm chung nhất về hoạt động công vụ nhà nước cho rằng đó là hoạt động đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phục vụ xã hội, công dân, nhà nước [8]. Do vậy, quyền lực nhà nước đi vào cuộc sống có hiệu lực, hiệu quả hay không, có 9 Luan van đúng đắn, tạo ra được các giá trị to lớn cho xã hội hay không, phụ thuộc rất lớn vào việc hoạt động công vụ nhà nước được thực hiện như thế nào.
Ở Việt Nam, công vụ của chúng ta có những khác biệt, hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện. Hoạt động công vụ được thực hiện trên cơ sở bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [22]. Do đó, hoạt động công vụ được định nghĩa là: "chức năng tổ chức và hoạt động quản lý nhằm ổn định và phát triển và đời sống nhân dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên nhà nước.
Theo nghĩa rộng, là toàn thể các công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước ở Trung ương và các cơ quan chính quyền địa phương. Theo nghĩa hẹp, là toàn bộ các quy chế công chức”[33]. Trong pháp luật hiện hành nước ta không có định nghĩa chính thức và thống nhất về "công vụ". Tuy nhiên, trong một số văn bản pháp luật về công vụ, công chức, khái niệm công vụ thường được hiểu theo nghĩa “công vụ nhà nước”.
Mặc dù về nhận thức có nhiều những quan niệm khác nhau về công vụ, nhưng nhìn một cách tổng thể có thể hiểu, mọi hoạt động của cán bộ, công chức đều là hoạt động công vụ. Nhà nước là tổ chức công quyền nên phục vụ trong cơ quan và công sở nhà nước là thực hiện công vụ nhà nước. Đây là nghĩa đầy đủ nhất của từ 'công vụ", với nghĩa "công vụ" là phục vụ nhà nước- phục vụ nhân dân. Tóm lại, công vụ là hoạt động của những người làm việc công, là phục vụ nhà nước, phục vụ Nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước, ở đâu có công chức ở đó có công vụ.
Luật Cán bộ, công chức xác định: Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được 10 Luan van giao. Nói đến hoạt động công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội [27]. Như vậy từ những khái niệm, đặc điểm của công vụ nhà nước, ta thấy hoạt động công ở vụ cấp xã là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do cán bộ, công chức cấp xã tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân trên địa bàn. Khái niệm công chức cấp xã.
Khái niệm công chức xã được quy định tại khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, theo quy định này thì tiêu chí xác định CCCX là gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; 11 Luan van g) Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. - Về số lượng cán bộ, công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định [9]: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã). Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Như vậy ở Việt Nam hiện nay CCCX đã được xác định rõ ràng về địa vị pháp lý là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.Đặc điểm công vụ, công chức cấp xã.