Chương 1 Cơ sở lý luận về năng lực công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong bối cảnh chuyển đổi số 1. Các khái niệm liên quan đến công chức và năng lực công chức Theo khoản 1, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [12]. Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 Quy định những người là công chức, công chức trong cơ quan hành chính ở cấp huyện là: - Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; - Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân [2]. 9 Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các quy định khác có liên quan [10].
Trong nền công vụ, năng lực của công chức được hiểu là khả năng thực tế đạt được thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, tự học tập, trau dồi kiến thức, qua hoạt động thực tiễn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, hoặc xử lý tình huống đặt ra trong quá trình công tác, đáp ứng những đòi hỏi của vị trí công việc. Năng lực của công chức được đánh giá dựa trên: Kiến thức, Kỹ năng và thái độ và một số yêu cầu khác liên quan đến công việc. Các khái niệm liên quan đến Chuyển đổi số Hiện nay, có rất nhiều quan điểm giải thích về chuyển đổi số, dưới mỗi góc nhìn, mỗi lĩnh vực chuyển đổi số được hiểu theo cách khác nhau: Trong cuốn Cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Nội vụ xuất bản năm 2022: “Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của các cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số” [1]. Dưới một số góc nhìn khác của các tổ chức và tập đoàn lớn: Theo FPT Digital (công ty cung cấp dịch vụ tư vấn chuyển đổi số) thì Chuyển đổi số được định nghĩa là sự thay đổi mang tính căn bản về công nghệ và tâm lý, tạo ra sự đột phá và chuyển đổi quy trình cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, xã hội.
Chuyển đổi số được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả các hoạt động chuyển đổi con người, nhận thức, và chuyển đổi doanh nghiệp. Trong đó, số hóa thông tin và số hóa quy trình sẽ là một phần để doanh nghiệp chuyển đổi số thành công [6]. Dưới góc nhìn của Tập đoàn Microsoft thì Chuyển đổi số là một sự đổi 10 mới kinh doanh được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT), cung cấp những cách mới để hiểu, quản lý và chuyển đổi cho các hoạt động kinh doanh của họ [6]. Cho dù dưới góc nhìn nào thì vấn đề chuyển đổi số là xu hướng tất yếu đối với xã hội và đòi hỏi sự đồng bộ, có sự tham gia của tất cả các cấp.
Đối với cơ quan nhà nước là từ trung ương đến địa phương, từ lãnh đạo tới cán bộ, công chức, viên chức và đồng thời là sự ủng hộ của người dân. Trong Cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Nội vụ xuất bản năm 2022, Chuyển đổi số ở Việt Nam được thực hiện trên 3 trụ cột chính: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chính phủ số là Chính phủ có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra các quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội. Kinh tế số là sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới, tạo ra sản phẩm, dịch vụ số hoặc hỗ trợ cung cấp dịch vụ số cho doanh nghiệp bằng các công nghệ mới như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo… Xã hội số dùng để chỉ một xã hội hiện đại, nơi công dân tương tác liền mạch với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống, bao gồm công việc, giải trí, giao tiếp… qua các kênh kỹ thuật số gồm các thiết bị được kết nối với nhau qua mạng Internet.
Mọi công dân trong xã hội có thể tương tác và tiếp cận với các dịch vụ công trên môi trường số ở bất cứ thời điểm nào và bất cứ đâu. 11 Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của quốc gia (tên tiếng Anh là Digital Transformation Index (DTI)) có chức năng theo dõi, đánh giá thực chất, khách quan, công bằng các kết quả thực hiện chuyển đổi số hàng năm của các đơn vị bộ, tỉnh, thành phố trong quá trình triển khai thực hiện gồm: Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số - xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. DTI bao gồm các chỉ số thành phần theo đặc điểm, tính chất quản lý nhà nước của các bộ, tỉnh, thành phố, quốc gia. Đặc biệt hình thành chỉ số để so sánh giữa các năm và cung cấp thông tin cho tổ chức quốc tế đánh giá, xếp hạng Việt Nam trong các chỉ số toàn cầu về: Chính phủ điện tử (EGDI); Công nghệ thông tin (IDI); An toàn thông tin mạng (ATTTM); Năng lực cạnh tranh (GCI); Đổi mới sáng tạo (GII).
Đồng thời, DTI còn xác định được những thực tiễn tốt, điển hình trong quá trình thực hiện chuyển đổi số để nhân rộng trên cả nước; cho phép nhập dữ liệu báo cáo trực tuyến, tra cứu kết quả đánh giá của bộ, tỉnh, quốc gia… Đối với các quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ hoạt động thông tin báo cáo về hoạt động chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố. Tiêu chí đánh giá năng lực công chức 1. Mục đích đánh giá năng lực công chức Từ năm 2018 đến nay, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quy định chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức 12 thuộc khu vực quản lý nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và đơn vị sự nghiệp công lập do thành phố quản lý cùng với các quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Các quy định về đánh giá phân loại cán bộ, công chức, viên chức được điều chỉnh phù hợp theo từng giai đoạn.
Đánh giá, xếp loại chất lượng theo hiệu quả công việc đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại Quyết định số 20/2024/QĐ-UBND ngày 02/5/2024. Đánh giá, phân loại hàng quý theo hiệu quả công việc đối với cán bộ, công chức, viên chức phải bảo đảm khoa học, chính xác, khách quan, nghiêm túc, công bằng, công khai, minh bạch, công tâm và không mang tính hình thức, nể nang, trù dập, thiên vị. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chuẩn hóa và xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; nâng cao ý thức trách nhiệm, tính tự giác trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Tiêu chí đánh giá 1.
Về kiến thức - Đảm bảo đáp ứng theo yêu cầu về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của từng vị trí việc làm - Có kiến thức về các quy định pháp luật, quy trình và quy định của cơ quan liên quan đến lĩnh vực công tác. Hiểu và vận dụng được các kiến thức vào việc thực thi, tham mưu, đề xuất và thực hiện công việc theo vị trí việc làm. - Nắm bắt tốt các kiến thức chuyên sâu thuộc lĩnh vực chuyên môn, như quy trình pháp lý, hành chính công, quy định bảo mật thông tin. Công chức phải am hiểu các hệ thống văn bản, chính sách liên quan và áp dụng được vào 13 công việc thực tế.
- Cần có kiến thức về những thay đổi chính sách, các chương trình và định hướng mới của chính phủ và cơ quan, từ đó áp dụng linh hoạt vào công việc. Cập nhật liên tục và có khả năng theo kịp và hiểu các chính sách, định hướng chiến lược mới của cơ quan. - Biết cách sử dụng các công cụ quản lý công việc, phần mềm văn phòng, và các ứng dụng hỗ trợ công việc trực tuyến. Nắm rõ các khái niệm về bảo mật dữ liệu, quản trị cơ sở dữ liệu và kỹ năng xử lý dữ liệu.
- Thực hiện nhiệm vụ được giao đảm bảo số lượng, chất lượng và tiến độ công việc, sản phẩm theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền. Về kỹ năng a) Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: - Có năng lực tập hợp cán bộ, công chức, viên chức, xây dựng đơn vị/bộ phận đoàn kết, thống nhất. - Có khả năng phân tích dữ liệu, đánh giá và đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả, đặc biệt là trong các tình huống phức tạp và cần xử lý nhiều thông tin.