đặt vấn đề này trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh. 10 Một mặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế).
Trong đó, các cam kết quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành, sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế chủ yếu được điều tiết bởi thị trường, nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, và nó đều chịu sự tác động của các quan hệ cung cầu, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị trường. Một điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đó là: bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa.
Vậy cạnh tranh là? Theo Marx "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch". Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 tại Anh), cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là" sự ganh đua, sự kình định giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình". Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường và khách hàng. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Đối với người mua, họ muốn mua được loại hàng hoá có chất lượng cao, với một mức giá rẻ. Còn ngược lại, các doanh nghiệp bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách giành giật khách hàng và thị trường về phía mình. Và như vậy, cạnh tranh sẽ xảy ra.
Cạnh tranh là một điều tất yếu của thị trường. Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhằm 11 thu được lợi nhuận tối đa. Tại Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh trong từng doanh đơn vị Do vậy, cạnh tranh là tất yếu của nền kinh tế thị trường, là một phương thức vận động của thị trường.
Nói đến thị trường cũng có nghĩa là nói tới sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế. Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường. Do vậy, quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp buộc phải tuân theo những quy luật cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trường hay có thể nói cơ chế thị trường là vũ đài cạnh tranh, là nơi gặp gỡ của các đối thủ cạnh tranh (các doanh nghiệp), mà kết quả sẽ là một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp khác vẫn tồn tại và phát triển hơn nữa.
Quy luật chọn lọc nghiệt ngã thông qua cạnh tranh của thị trường đã chia các doanh nghiệp thành hai nhóm: nhóm năng động và nhóm trì trệ. Điều đó đặt ra cho những doanh nghiệp đang yếu kém và lúng túng phải nhanh chóng thích nghi, vì nếu thích nghi được thì đó là cơ hội để phát triển và ngược lại, nếu không thích nghi thì đó là dấu hiệu của sự phá sản. Vì vậy, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đạt được một trình độ cạnh tranh cao là con đường đảm bảo chắc chắn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp được phân thành nhiều loại khác nhau.
Nhưng xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm 2 loại: Cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành. Để giành lợi thế trên thị trường, các doanh nghiệp phải nắm vững các loại cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện và đặc điểm của mình. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp. Các yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của nó.
Ưu thế mạnh được hiểu là những đặc tính hoặc những thông số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có được ưu việt, sự vượt trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì môi trường bên ngoài doanh nghiệp luôn luôn biến đổi và ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh sản phẩm. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: 2. Nhóm các yếu tố vĩ mô Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất.
12 Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu. Tiến bộ khoa học và kỹ thuật ảnh hưởng mạnh mẽ đến chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm dịch vụ. Bối cảnh quốc tế như xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đang gia tăng trở thành đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ tạo ra những thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho việc cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. Các yếu tố chính trị pháp luật, chính sách kinh tế ảnh hưởng… có tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
Nếu sản phẩm dịch vụ được nhà nước khuyến khích sử dụng sẽ được ưu đãi về thuế, hoặc hỗ trợ về giá cả làm cho giá của sản phẩm đó giảm so với các sản phẩm khác cùng loại. Và ngược lại bị các chính sách hạn chế tiêu dùng sản phẩm như rượu, bia, thuốc lá cấm quảng cáo tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và thấp hơn so với các hàng hóa khác. Môi trường cạnh tranh trong ngành Theo M.Porter thì có 5 lực lượng tác động đến cạnh tranh của doanh nghiệp đó là các nhân tố cạnh tranh liên quan đến cùng một ngành của doanh nghiệp như về khách hàng, nhà cung ứng, hay đối thủ cạnh tranh trực tiếp đang và sẽ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại và các sản phẩm thay thế. - Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là các công ty doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong một ngành công nghiệp nhất định, những công ty, doanh nghiệp này sẽ vượt qua được những rào cản để xâm nhập vào các ngành hoặc những hãng muốn rút lui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội.
Các lĩnh vực cần tìm hiểu về tiềm năng của đối thủ cạnh tranh bao gồm chủng loại sản phẩm, dịch vụ, chính sách marketing, tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực và trình độ quản lý, khả năng về công nghệ, những cơ hội đầu tư, các quan hệ xã hội của đối thủ… Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức phản ánh khả năng thích nghi của đối thủ cạnh tranh trước những thay đổi môi trường kinh doanh càng lớn và ngược lại. - Khách hàng: Tất cả những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu doanh nghiệp nào càng lớn càng đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và sự trung thành từ phía khách hàng. Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn.
Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn 13 được tất cả các nhu cầu của khách hàng. Cho nên, nhất thiết các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn. - Các nhà cung ứng: Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động của một số công ty, như các nhà cung ứng cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản xuất, nhân công…Các nhà cung ứng có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt động sản xuất của công ty.
Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh. Các nhà cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất: Những nhà cung ứng này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá cung ứng hoặc giảm mạnh chất lượng các yếu tố cung ứng. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà cung ứng cũng tương tự như yếu tố làm tăng thế mạnh của khách hàng. - Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Khi một ngành có sự gia tăng thêm số lượng các đối thủ cảnh tranh mới thì hệ quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh.
Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau nên họ có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ. Khi đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện thì bị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới.