CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU HÀNG RAU QUẢ 1.1 Khái quát năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp xuất khẩu 1.1 Khái niệm, vai trò xuất khẩu và đặc điểm hàng rau quả xuất khẩu 1.1 Khái niệm xuất khẩu: Xuất khẩu là hoạt động thương mại liên quan đến việc bán hàng hóa và dịch vụ với thị trường nước ngoài. Xuất khẩu thực chất là hoạt động thương mại mở rộng ra phạm vi quốc tế, là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Mỗi một quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối và tương đối trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó, nên tất yếu xảy ra sự chuyên hóa trong sản xuất để có thể lợi dụng được các lợi thế, mở rộng khả năng sản xuất của các nước. Có 2 hình thức xuất khẩu là: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu trực tiếp: là hoạt động xuất khẩu mà các đơn vị kinh doanh bán hàng cho các nhà nhập khẩu hoặc người mua ở thị trường nước ngoài mà không phải qua trung gian nào.
Xuất khẩu gián tiếp: hay còn gọi là phương thức mua bán trung gian. Hình thức đại lý rất thích hợp khi mua bán các hàng nông sản thực phẩm, hàng công nghiệp tiêu dung và một số hàng hóa khác.2 Vai trò xuất khẩu Xuất khẩu mặt hàng rau quả đóng góp kim ngạch xuất khẩu giúp tăng trưởng GDP, thu hồi ngoại tệ bổ sung vào NSNN. Xuất khẩu rau quả góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của người lao động nông thôn. Xuất khẩu yêu cầu sản phẩm phải có thường xuyên, ổn định.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, hình thành các nhà máy chế biến rau quả, người sản xuất tiến tới thâm canh, tăng vụ, lượng người thất nghiệp theo mùa vụ giảm Luan van 7 đáng kể. Các nhà máy hình thành tạo nhiều công an việc làm, đời sống công nhân khá lên. Xuất khẩu góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp. Xuất khẩu rau quả còn làm đòn bẩy cho khu vực nông thôn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giúp tăng năng suất lao động từ đó cân bằng lao động ở khu vực nông thôn và thành thị.3 Đặc điểm hàng rau quả xuất khẩu Sản phẩm rau quả có những điểm đặc thù, đặt ra những đòi hỏi riêng trong thực tiễn kinh doanh xuất nhập khẩu : - Rau quả là một trong những mặt hàng dễ hỏng, có thời gian sử dụng ngắn, giá trị kinh tế tương đối thấp.
Cho nên muốn thu được hiệu quả kinh doanh cao, phải huy động được một số lượng hàng tương đối lớn và hoàn tất hợp đồng trong thời gian ngắn. - Việc vận chuyển mặt hàng này đòi hỏi phải có những phương tiện vận tải chuyên dụng, hệ thống làm lạnh, hệ thống kho bảo quản chuyên dụng và đồng bộ. Có như vậy mối tránh được những tổn thất thường xuyên phát sinh làm giảm mất giá trị của sản phẩm như bị dập, thối… - Để duy trì chất lượng của sản phẩm giao xuất khẩu tốt còn phải có một quy trình xử lý sản phẩm và công nghệ bảo quản sau thu hoạch phù hợp với yêu cầu riêng của mỗi loại. - Rau quả các loại rất khác nhau về khả năng duy trì độ tươi mới sau thu hoạch cũng như chịu tác động của môi trường bên ngoài.
Do vậy cấu tạo của từng loại bao bì có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo quản chất lượng sản phẩm. - Sản phẩm rau quả chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thiên nhiên, vì vậy việc sản xuất rau quả cung ứng cho xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Tóm lại, việc kinh doanh ngành hàng rau quả xuất khẩu đòi hỏi phải được hình thành trên cơ sở một dây chuyền đồng bộ, khép kín từ kỹ thuật gieo trồng, Luan van 8 trình độ thâm canh cao, tạo nguồn hàng xuất khẩu tập trung, đến quy trình xử lý hợp lý sau thu hoạch, hệ thống bảo quản và vận tải thích hợp. Sản phẩm rau quả chế biến thuộc nhóm mặt hàng thực phẩm và đồ uống nên thời gian bảo quản và sử dụng có giới hạn nhất định.
Do sản phẩm của ngành rất đa dạng và phong phú nên quy trình công nghệ chế biến bao gồm nhiều dạng khác nhau. Đối tượng nguyên liệu đưa vào bảo quản và chế biến của ngành rau quả có đến hàng chục loại, nếu không xử lý kịp thời thì nguyên liệu nhanh chóng bị mất phẩm chất và chóng bị hư thối. Do vậy công nghệ chế biến rất phức tạp và đa dạng.2 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh trạnh của doanh nghiệp xuất khẩu Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong đề tài này, thuật ngữ “cạnh tranh” dùng để chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, một dạng cụ thể của cạnh tranh.
Trong các tài liệu chưa có định nghĩa thống nhất về sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có sự dùng lẫn giữa “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” Khái niệm NLCT được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985) : “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng và năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994).
Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp , NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Theo Michael Porter thì :”Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Luan van 9 Tiếp cận từ góc độ quản trị kinh doanh hiện đại và để nhận dạng, đo lường và đánh giá NLCT của doanh nghiệp Việt Nam, GS.TS Nguyễn Bách Khoa (trường Đại học Thương Mại) đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp với các khả năng và các nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì : “Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà DN có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu daifa và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của DN đồng thời đạt được những mục tiêu của DN đặt ra.” Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững.3 Phân định các loại hình năng lực cạnh tranh Có 3 cấp độ NLCT sau: - NLCT quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân. - NLCT doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. - NLCT sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm, dịch vụ đó. Các cấp độ NLCT có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi nền kinh tế có NLCT quốc gia phải có nhiều Luan van 10 doanh nghiệp có cạnh tranh.
Ngược lại để tạo điều kiện cho DN có NLCT, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chế độ kinh tế vĩ mô phải rõ rang, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả và có tính chuyên nghiệp. NLCT của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của DN được đo thông qua thị phần, lợi nhuận của DN, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của DN. Là tế bào của nền kinh tế, NLCT của DN là cơ sở cho NLCT quốc gia. Đồng thời NLCT của DN cũng thể hiện qua NLCT của sản phẩm dịch vụ mà DN kinh doanh.
Mặc khác, theo chức năng thì NLCT còn được chia thành NLCT marketing và NLCT phi Marketing (bao gồm các yếu tố: năng lực tài chính, trình độ nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ, năng lực lãnh đạo quản lý) 1.4 Khái niệm và thực chất của nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp xuất khẩu Ở đây, nâng cao năng lực cạnh tranh Marketing của DN xuất khẩu được hiểu là việc tạo lập, duy trì và thay đổi các tác nhân, lực lượng marketing góp phần tạo lập lợi thế cạnh tranh của DN nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh để DN có được năng lực và ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh. NLCT Marketing là nguồn nội lực quan trọng hình thành nên NLCT nói chung của DN vì nó tạo ra giá trị gia tăng cho KH và tạo ra sự khác biệt rõ nét trong mối tương quan với đối thủ cạnh tranh của DN.