Tổng quan nghiên cứu

Thừa Thiên Huế sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa và thiên nhiên phong phú bậc nhất Việt Nam với hai di sản thế giới được UNESCO công nhận là Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc Cung đình Huế. Mặc dù giai đoạn 2011–2015, lượt khách du lịch và doanh thu ngành đạt mức tăng trưởng bình quân lần lượt là 10,83%/năm và 15%/năm, nhưng kết quả phát triển tổng thể vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng. Lượng khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế chỉ bằng khoảng 50% so với Quảng Nam, 40% so với Hà Nội và 35% so với Siem Reap của Campuchia.

Vấn đề cốt lõi mà tỉnh phải đối mặt là sự suy giảm về hiệu quả kinh tế du lịch: tỷ lệ khách lưu trú sụt giảm nghiêm trọng từ mức 87% năm 2008 xuống chỉ còn 57% vào năm 2015, trong khi mức chi tiêu của du khách thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước. Nguồn thu ngân sách của địa phương vẫn phụ thuộc chủ yếu vào các ngành truyền thống như sản xuất bia, xi măng và kinh doanh xăng dầu.

Đứng trước thực trạng này, luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Lê Văn Phúc được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: nhận diện các nhân tố then chốt thúc đẩy hoặc kìm hãm năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Thừa Thiên Huế, đồng thời xây dựng hệ thống khuyến nghị chính sách thực thi hiệu quả. Phạm vi nghiên cứu bao quát các tác nhân kinh tế trong cụm ngành du lịch trên địa bàn tỉnh, đặt trong tương quan so sánh với các địa phương lân cận thuộc Vùng Kinh tế Trọng điểm Miền Trung giai đoạn 2008–2016. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để tái định hình chiến lược phát triển ngành kinh tế mũi nhọn của Cố đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết năng lực cạnh tranh và mô hình cụm ngành của giáo sư Michael E. Porter làm nền tảng phân tích. Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay địa phương được định nghĩa duy nhất thông qua năng suất – tức giá trị sản lượng do một đơn vị vốn hoặc lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian.

Khung phân tích được kế thừa và hiệu chỉnh theo mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh cấp địa phương của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, bao gồm ba tầng cấu trúc: các yếu tố sẵn có (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên), năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương (hạ tầng kỹ thuật, chính sách tài khóa, hạ tầng xã hội) và năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, chiến lược hoạt động).

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng Mô hình Kim cương Porter với bốn yếu tố tương tác đa chiều:

  • Các điều kiện nhân tố đầu vào: nguồn vốn, cơ sở hạ tầng, tài sản tự nhiên, lực lượng lao động và nguồn kiến thức.
  • Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh: môi trường thể chế, độ mở thị trường và áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
  • Các điều kiện cầu: mức độ khắt khe và xu hướng chi tiêu của khách du lịch nội địa và quốc tế.
  • Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: mạng lưới lữ hành, lưu trú, vận tải, ẩm thực và các thể chế trung gian.

Khái niệm cụm ngành du lịch trong nghiên cứu được hiểu là sự tập hợp không gian địa lý của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, trường đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước có mối quan hệ vừa cạnh tranh vừa hợp tác để tối ưu hóa năng suất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả thực chứng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung giai đoạn 2008–2015, Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI giai đoạn 2013–2016, cùng các tài liệu quy hoạch ngành du lịch của dự án EU-ESRT và JICA.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 216 khách du lịch (bao gồm cả du khách nội địa và quốc tế) được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại các điểm tham quan trọng điểm. Song song đó, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc với đại diện Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Hiệp hội Du lịch, các chuyên gia kinh tế và lãnh đạo các doanh nghiệp tiêu biểu như Khách sạn Saigon Morin, Khách sạn Midtown Huế và Công ty Lữ hành Eagle Tourist.

Phương pháp phân tích này cho phép kiểm định khoa học bốn giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H4, đối chiếu các khoảng trống chính sách và chỉ ra nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm sức hút của du lịch địa phương trong giai đoạn 2010–2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã mang lại bốn phát hiện trọng tâm về thực trạng cụm ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế:

  • Thứ nhất, tài nguyên du lịch văn hóa rất phong phú nhưng sản phẩm trải nghiệm lại nghèo nàn và đơn điệu. Toàn tỉnh lưu giữ gần 900 di tích lịch sử với 84 di tích cấp quốc gia. Tuy nhiên, có đến hơn 80% du khách chỉ tập trung tham quan Đại Nội và các lăng tẩm hoàng gia. Mức độ hài lòng của du khách đối với cuộc sống về đêm và các hoạt động vui chơi giải trí chỉ đạt 41,8%, trong khi mức độ hài lòng về mặt hàng quà lưu niệm chỉ đạt 43,2%. Kết quả này khẳng định giả thuyết H1 (tài nguyên thúc đẩy năng lực cạnh tranh) và giả thuyết H4 (thiếu hụt sản phẩm du lịch kìm hãm năng lực cạnh tranh).
  • Thứ hai, chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ công cộng bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Chỉ số hạ tầng thuộc PCI của Thừa Thiên Huế sụt giảm mạnh từ vị trí thứ 6/63 tỉnh thành năm 2013 xuống thứ 32/63 vào năm 2016, xếp cuối cùng trong 5 tỉnh thuộc Vùng Kinh tế Trọng điểm Miền Trung. Khảo sát cho thấy chỉ có 48,6% du khách hài lòng về cơ sở hạ tầng tại các điểm tham quan, và tỷ lệ hài lòng về vệ sinh nhà vệ sinh công cộng chỉ đạt 48%. Dữ liệu thực tế đã bác bỏ giả thuyết H2.
  • Thứ ba, nguồn nhân lực du lịch phổ thông đáp ứng tốt yêu cầu nhưng thiếu hụt trầm trọng nhân sự quản trị cấp cao. Năm 2015, ngành du lịch tỉnh có 12.000 lao động với 84% đã qua đào tạo và 35% có trình độ từ cao đẳng trở lên. Toàn tỉnh có 1.200 hướng dẫn viên được cấp thẻ (với 715 thẻ quốc tế, cao gấp 8,5 lần so với Quảng Nam). Tỷ lệ lao động tốt nghiệp trường nghề đạt 45,24%, vượt trội so với trung vị cả nước là 36,80%. Điều này dẫn đến việc bác bỏ giả thuyết H3 ở phân khúc lao động cơ bản.
  • Thứ tư, môi trường kinh doanh và liên kết vùng còn nhiều rào cản. Chỉ số PCI năm 2016 của tỉnh chỉ đạt 59,68 điểm (hạng 23/63). Doanh nghiệp tại tỉnh phải dành trung bình 16 giờ mỗi năm để làm việc với thanh tra thuế, cao gấp đôi so với Quảng Nam. Gần 80% doanh nghiệp phản ánh nguồn lực kinh tế tập trung vào các đơn vị có quan hệ chặt chẽ với chính quyền, và 42,9% cho rằng chính quyền còn trì hoãn xử lý vướng mắc chính sách.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phát triển du lịch Thừa Thiên Huế phản ánh sự mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng tài nguyên và hiệu quả kinh tế. Tình trạng suy giảm lượng khách lưu trú xuất phát từ việc quy hoạch phát triển dàn trải trên quá nhiều loại hình (sinh thái, tâm linh, biển đảo, đầm phá) thay vì tập trung đầu tư chiều sâu cho sản phẩm lõi là di sản cố đô. Khi trình bày dữ liệu khảo sát trên biểu đồ phân bố lịch trình, có tới 97% khách quốc tế và 65% khách nội địa xem Huế chỉ là điểm dừng chân kết hợp trong tuyến du lịch với Đà Nẵng, Quảng Nam hoặc Hà Nội.

Môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các công ty lữ hành nhỏ lẻ và tình trạng hạ giá phòng quá mức ở các cơ sở lưu trú 3–4 sao đã làm suy giảm chất lượng dịch vụ tổng thể. Chương trình hợp tác "Ba địa phương – Một điểm đến" giữa Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam triển khai từ năm 2002 nhưng sau hơn 10 năm vẫn chỉ dừng lại ở các hoạt động quảng bá rời rạc, thiếu vắng các sản phẩm tour liên vùng do chính doanh nghiệp liên kết xây dựng. Ngân sách xúc tiến du lịch của tỉnh chỉ dao động từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng mỗi năm, mức quá thấp để tạo ra các chiến dịch tiếp thị số quy mô quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả chẩn đoán mô hình kim cương, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch Thừa Thiên Huế:

  • Tái định hình quy hoạch phát triển du lịch theo thứ tự ưu tiên: Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Du lịch cần chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải nguồn vốn ngân sách. Trong giai đoạn 2018–2020, địa phương phải xác định phát triển du lịch di sản văn hóa làm trục giá trị cốt lõi, kết hợp hài hòa với nghỉ dưỡng biển Lăng Cô – Cảnh Dương và sinh thái đầm phá Tam Giang, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ khách lưu trú từ 57% lên 70% vào năm 2025.
  • Cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cắt giảm tối thiểu 50% thời gian thực hiện thủ tục hành chính và thanh tra thuế cho doanh nghiệp du lịch (từ 16 giờ xuống dưới 8 giờ/năm). Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch thông tin đất đai và hỗ trợ tiếp cận vốn tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân.
  • Đa dạng hóa chuỗi sản phẩm trải nghiệm và kinh tế ban đêm: Hiệp hội Du lịch phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xây dựng các gói dịch vụ giải trí chất lượng cao, đẩy mạnh mô hình hoạt động Đại Nội về đêm, mở rộng phố đi bộ đêm Phạm Ngũ Lão – Chu Văn An và phát triển ẩm thực cung đình chuẩn hóa. Phấn đấu nâng tỷ lệ hài lòng về cuộc sống giải trí về đêm của du khách lên mức trên 75% vào năm 2022.
  • Nâng cấp hạ tầng kết nối và đẩy mạnh xúc tiến quảng bá số: Ủy ban nhân dân tỉnh cần xúc tiến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) để mở rộng các tuyến bay quốc tế trực tiếp đến sân bay Phú Bài (vượt mức 2 chuyến/tháng hiện tại), nâng cấp các tuyến giao thông kết nối các điểm du lịch ngoại thành. Đồng thời, nâng ngân sách xúc tiến du lịch lên tối thiểu 5 tỷ đồng/năm và xây dựng cổng thông tin du lịch điện tử đa ngôn ngữ đồng bộ cùng Đà Nẵng và Quảng Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như các tỉnh miền Trung có thể sử dụng các kết quả đánh giá để xây dựng quy hoạch tổng thể ngành du lịch, điều chỉnh cơ chế quản lý điểm đến và xây dựng chính sách thu hút đầu tư FDI hiệu quả.
  • Lãnh đạo các doanh nghiệp du lịch, lữ hành và lưu trú: Giám đốc điều hành các khách sạn, công ty lữ hành tại địa phương có thêm dữ liệu khảo sát thị trường chuẩn xác về hành vi, mức độ hài lòng và kỳ vọng của khách quốc tế để định vị phân khúc khách hàng mục tiêu và thiết kế các gói sản phẩm độc đáo, hạn chế bẫy cạnh tranh phá giá.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, Chính sách công và Quản trị du lịch có thể sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về việc ứng dụng Mô hình Kim cương Porter kết hợp phân tích năng lực cạnh tranh địa phương vào giải quyết bài toán ngành cụ thể.
  • Các hiệp hội ngành nghề và tổ chức quốc tế: Hiệp hội Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế và các tổ chức tài trợ như UNESCO, JICA, dự án EU-ESRT có thể tham khảo để thiết kế các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nghiệp vụ quản trị du lịch cao cấp và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị du lịch miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao Thừa Thiên Huế sở hữu nhiều di sản thế giới nhưng doanh thu du lịch lại thấp hơn Đà Nẵng và Quảng Nam? Doanh thu du lịch Thừa Thiên Huế năm 2015 chỉ bằng khoảng 50% so với Đà Nẵng do cơ cấu chi tiêu của khách thấp và thời gian lưu trú ngắn (chỉ 57% khách ở lại qua đêm). Tỉnh thiếu các tổ hợp vui chơi giải trí hiện đại, sản phẩm kinh tế ban đêm nghèo nàn và các điểm mua sắm lưu niệm chưa kích thích được mức chi tiêu của du khách quốc tế.

  • Chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại Thừa Thiên Huế được đánh giá như thế nào trong nghiên cứu? Thừa Thiên Huế có nguồn nhân lực phổ thông và kỹ thuật rất dồi dào với 84% lao động qua đào tạo và 1.200 hướng dẫn viên được cấp thẻ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất của địa phương là sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ quản trị cấp cao tại các khách sạn 4–5 sao, khiến hầu hết các vị trí quản lý chủ chốt vẫn phải thuê chuyên gia nước ngoài.

  • Mô hình Kim cương của Michael E. Porter đóng vai trò gì trong luận văn? Mô hình Kim cương Porter giúp phân tích hệ thống 4 nhóm yếu tố tương tác cấu thành năng suất cụm ngành: điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện cầu, bối cảnh chiến lược cạnh tranh và các ngành phụ trợ. Qua đó, tác giả chỉ ra các điểm nghẽn thể chế và sự thiếu liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái du lịch Cố đô.

  • Yếu tố nào về môi trường kinh doanh đang cản trở du lịch Thừa Thiên Huế nhiều nhất? Theo chỉ số PCI, các doanh nghiệp địa phương gặp trở ngại lớn về chi phí thời gian khi phải dành trung bình 16 giờ/năm cho thanh tra thuế (gấp đôi Quảng Nam). Ngoài ra, sự thiếu bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực giữa doanh nghiệp tư nhân với khối doanh nghiệp nhà nước và FDI cũng là rào cản lớn kìm hãm sự năng động của thị trường.

  • Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để phát triển kinh tế du lịch ban đêm? Nghiên cứu kiến nghị chính quyền tỉnh và các doanh nghiệp khẩn trương mở rộng tuyến phố đi bộ Chu Văn An – Phạm Ngũ Lão, nâng cấp chất lượng tour thưởng thức ca Huế và ẩm thực trên sông Hương, đồng thời hoàn thiện sản phẩm Đại Nội về đêm nhằm nâng mức độ hài lòng của du khách từ 41,8% lên trên 75%.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Văn Phúc đã hệ thống hóa và kiểm định thực nghiệm xuất sắc mô hình năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Đề tài chứng minh rõ ràng rằng tài nguyên phong phú không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh cao nếu thiếu hạ tầng đồng bộ, sản phẩm dịch vụ ban đêm hấp dẫn và môi trường kinh doanh minh bạch.
  • Công trình đóng góp bộ dữ liệu thực chứng giá trị với 216 mẫu khảo sát du khách và các chỉ số so sánh liên tỉnh xác đáng trong Vùng Kinh tế Trọng điểm Miền Trung.
  • Lộ trình thực thi chính sách giai đoạn 2018–2025 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc chuyển đổi số du lịch, tái cơ cấu danh mục quy hoạch ưu tiên và nâng cao chỉ số PCI.
  • Các nhà quản lý chính sách, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn diện khung phân tích và hệ thống dữ liệu của luận văn để thúc đẩy du lịch Cố đô Huế phát triển bền vững và bứt phá mạnh mẽ.