Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Bình Thuận được thực hiện trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp tỷ trọng ngày càng cao vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Sở hữu đường bờ biển dài 192 km cùng nền nhiệt độ ôn hòa từ 26,5°C đến 27,5°C, Bình Thuận có điều kiện tự nhiên lý tưởng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển quanh năm. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động giai đoạn 2008 - 2012 cho thấy sự phát triển du lịch của tỉnh chưa thực sự tương xứng với tiềm năng sẵn có. Cụ thể, dù tổng lượt khách đến địa phương đạt mốc xấp xỉ 2.650.000 lượt vào năm 2012, lượng khách du lịch quốc tế chỉ đạt khoảng 195.200 lượt, chiếm tỷ trọng khiêm tốn chưa tới 10% trong cơ cấu thị trường.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy giảm lợi thế cạnh tranh tương đối của Bình Thuận trước các trung tâm du lịch lân cận như Nha Trang, Vũng Tàu và Đà Nẵng. Mục tiêu chính của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, khảo sát toàn diện thực trạng cung - cầu du lịch Bình Thuận giai đoạn 2010 - 2013, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của thương hiệu du lịch địa phương đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Nghiên cứu tập trung giới hạn không gian tại các trọng điểm du lịch như thành phố Phan Thiết, Mũi Né, Hàm Tiến và Tuy Phong. Về mặt thực tiễn, các chỉ số phân tích giúp chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lữ hành định vị chính xác vị thế thị trường, nâng tỷ lệ khách lưu trú và tối ưu hóa doanh thu từ dịch vụ bổ trợ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận năng lực cạnh tranh điểm đến dựa trên nền tảng tích hợp của hai trường phái lý thuyết kinh tế và quản trị du lịch hiện đại. Thứ nhất là mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1980), bao gồm: áp lực từ đối thủ hiện tại, nguy cơ từ đối thủ tiềm năng, mối đe dọa từ sản phẩm thay thế, quyền lực thương lượng của khách hàng và quyền lực của nhà cung ứng. Thứ hai là khung phân tích năng lực cạnh tranh điểm đến tích hợp của Dwyer và Kim (2003) kết hợp với các tiêu chí đánh giá của Metin Kozak (2004).

Hệ thống lý thuyết này tập trung làm rõ 4 nhóm khái niệm và nhân tố cấu thành điểm đến (mô hình 4As):

  1. Sự hấp dẫn du lịch (Attractions): Tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, công trình kiến trúc cổ và các lễ hội truyền thống.
  2. Khả năng tiếp cận (Accessibility): Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và hệ thống truyền thông công nghệ.
  3. Dịch vụ lưu trú và ẩm thực (Accommodation): Hệ thống khách sạn, resort, nhà hàng đạt tiêu chuẩn phục vụ.
  4. Tiện nghi và dịch vụ bổ sung (Amenities & Ancillary services): Khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và môi trường an ninh an toàn.

Bên cạnh đó, đề tài đối chiếu các tiêu chí phân cấp điểm du lịch theo Điều 24 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, trong đó quy định điểm du lịch cấp quốc gia phải có hạ tầng bảo đảm phục vụ tối thiểu 100.000 lượt khách/năm, và điểm du lịch địa phương phục vụ từ 10.000 lượt khách/năm trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa và phân tích tài liệu thứ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê và báo cáo thường niên giai đoạn 2008 - 2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, quy trình chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện tại 6 điểm du lịch tập trung đông du khách nhất: Đồi Cát Bay, Hòn Rơm (Mũi Né), Suối Tiên (Hàm Tiến), Bãi đá màu Bình Thạnh (Tuy Phong), Bãi đá Ông Địa và di tích Lầu Ông Hoàng (Phan Thiết). Thời gian điều tra thực địa diễn ra liên tục từ tháng 12/2012 đến tháng 06/2013. Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 300 phiếu, số phiếu thu về hợp lệ đạt 253 phiếu (tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 84,33%). Bảng hỏi gồm 9 nhóm câu hỏi đóng đo lường mức độ hài lòng của du khách nội địa theo thang đo định lượng. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê mô tả, tính điểm trung bình trên phần mềm Microsoft Excel 2007, kết hợp với phương pháp phân tích ma trận SWOT để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của điểm đến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng quy mô khách du lịch đạt mức khả quan nhưng cơ cấu nguồn khách còn mất cân đối nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2008 - 2012, tổng lượng khách đến Bình Thuận duy trì đà tăng trưởng liên tục, đạt xấp xỉ 2.650.000 lượt vào năm 2012. Tuy nhiên, khách quốc tế chỉ đạt 195.200 lượt (chiếm khoảng 7,37% đến 10% tổng lượng khách), phản ánh hạn chế trong công tác xúc tiến thị trường toàn cầu.

Thứ hai, kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ kỹ thuật đã có bước phát triển nhưng chưa đồng bộ. Mạng lưới đường bộ toàn tỉnh đạt tổng chiều dài 1.744 km, trong đó hệ thống quốc lộ dài 412,15 km với tỷ lệ nhựa hóa đạt 64,26% (264,85 km đường nhựa, 54 cầu với tổng chiều dài 1.551,89 m). Hệ thống đường tỉnh có 346,25 km và đường huyện đạt 985,69 km. Mặc dù nguồn điện từ các nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi (475 MW) và Đại Ninh (300 MW) cùng nguồn cấp nước 35.000 m3/ngày-đêm bảo đảm công suất cơ bản, việc thiếu cảng hàng không và đường cao tốc kết nối trực tiếp với trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (cách 200 km) là rào cản lớn nhất đối với khả năng tiếp cận của điểm đến.

Thứ ba, mức độ hài lòng của 253 du khách khảo sát cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa tài nguyên tự nhiên và chất lượng dịch vụ nhân tạo. Điểm đến Bình Thuận được đánh giá rất cao về cảnh quan biển hoang sơ, khí hậu nhiều nắng và các danh thắng như Bàu Trắng (280 ha), Cù Lao Câu (cách bờ 6,2 hải lý), Đồi Cát Bay. Ngược lại, mức độ thỏa mãn đối với các dịch vụ vui chơi giải trí ban đêm, sản phẩm lưu niệm, tính đa dạng của ẩm thực và khả năng giao tiếp ngoại ngữ của đội ngũ lao động chỉ đạt mức trung bình - khá.

Thứ tư, tài nguyên du lịch văn hóa - lịch sử chưa được khai thác tương xứng. Các di tích kiến trúc Champa độc đáo như Tháp Pôshainư, Tháp Pô Đam hay quần thể di tích Trường Dục Thanh, Dinh Thầy Thím vẫn chưa được tích hợp chặt chẽ vào các tuyến tour thương mại để kéo dài thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế về sức cạnh tranh của du lịch Bình Thuận bắt nguồn từ sự thiếu liên kết vùng và chiến lược định vị thương hiệu chưa thực sự sắc nét. So sánh với đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Khánh Hòa (Nha Trang) hay Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận sở hữu lợi thế vượt trội về địa hình đồi cát ven biển (chiếm 18,22% diện tích đất tự nhiên) và lượng mưa thấp từ 800 đến 1.600 mm/năm (thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước là 1.900 mm/năm). Tuy nhiên, địa phương lại tụt hậu về hạ tầng giao thông kết nối cao tốc và hệ thống dịch vụ bổ trợ cao cấp.

Để tối ưu hóa trực quan khoa học, các dữ liệu về biến động cung - cầu này có thể được mô hình hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng (stacked bar chart) thể hiện tương quan giữa lượng khách quốc tế (195.200 lượt) và khách nội địa qua từng năm. Đồng thời, biểu đồ mạng nhện (radar chart) 5 trục nên được sử dụng để so sánh các chỉ số: tài nguyên sẵn có, cơ sở lưu trú, hạ tầng giao thông, nhân lực và xúc tiến quảng bá của Bình Thuận với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Bình Thuận theo định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể cần được triển khai đồng bộ:

  1. Đa dạng hóa và nâng cấp chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận chủ trì phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp đẩy mạnh khai thác sản phẩm thể thao biển cao cấp (lướt ván buồm, lướt ván diều tại Mũi Né), du lịch sinh thái nghỉ dưỡng chữa bệnh tại nguồn suối khoáng nóng chân núi Tà Kú, và du lịch văn hóa Chăm gắn với tháp Pôshainư, Pô Đam. Mục tiêu tăng tỷ trọng khách quốc tế từ mức khoảng 10% lên 18% - 20% trong giai đoạn 2015 - 2020.

  2. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông đối ngoại: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cần kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải ưu tiên nguồn vốn nâng cấp, nhựa hóa 100% các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 28 và quốc lộ 55 kết nối Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, đồng thời thúc đẩy dự án sân bay Phan Thiết. Mục tiêu rút ngắn 35% đến 40% thời gian di chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh về trung tâm Phan Thiết giai đoạn 2015 - 2020.

  3. Chuẩn hóa và phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao: Các cơ sở đào tạo nghề liên kết với hệ thống resort, khách sạn thực hiện đào tạo lại kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu và trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nga) cho ít nhất 75% lực lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch trước năm 2018.

  4. Xây dựng chiến lược xúc tiến thương hiệu và liên kết liên vùng: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh triển khai chiến dịch quảng bá số hóa, tham gia các hội chợ du lịch quốc tế thường niên, đồng thời thiết lập liên minh phát triển tuyến du lịch tam giác "Thành phố Hồ Chí Minh - Lâm Đồng - Bình Thuận". Chỉ tiêu đề ra là kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách từ khoảng 1,8 - 2,1 ngày lên mức 3,0 - 3,5 ngày trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố tại Bình Thuận): Ứng dụng khung ma trận SWOT và hệ thống dữ liệu 253 mẫu khảo sát để hoạch định chính sách đầu tư công, phân bổ ngân sách xúc tiến quảng bá và quản lý tài nguyên bền vững trên địa bàn bờ biển 192 km.

  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, khách sạn và khu nghỉ dưỡng: Sử dụng dữ liệu phân tích hành vi, độ tuổi và mức độ hài lòng của du khách để thiết kế các gói sản phẩm tour nghỉ dưỡng, thể thao biển và định giá phòng phù hợp với từng phân khúc khách hàng mục tiêu.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Kinh tế phát triển: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo học thuật điển hình về phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cấp tỉnh thông qua mô hình lý thuyết của Porter, Dwyer & Kim.

  4. Các nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng và hạ tầng dịch vụ: Khai thác thông tin về quy hoạch không gian 4 dạng địa hình tự nhiên và tiềm năng chưa khai phá tại khu vực Hàm Thuận Nam, Tuy Phong, Bàu Trắng để xây dựng các dự án đầu tư đón đầu hạ tầng giao thông liên kết vùng.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đến du lịch Bình Thuận sở hữu những lợi thế cạnh tranh tự nhiên nổi bật nào?

Bình Thuận có đường bờ biển dài 192 km, nền nhiệt độ ấm áp quanh năm từ 26,5°C đến 27,5°C và lượng mưa trung bình chỉ từ 800 đến 1.600 mm/năm (thấp hơn nhiều so với mức 1.900 mm/năm của cả nước). Địa hình đồi cát ven biển chiếm 18,22% diện tích đất tự nhiên tạo nên cảnh quan đặc sắc tại Mũi Né, Bàu Trắng, rất thuận lợi để khai thác du lịch nghỉ dưỡng và thể thao biển suốt 12 tháng trong năm.

Tỷ trọng khách du lịch quốc tế tại Bình Thuận trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, trong tổng số xấp xỉ 2.650.000 lượt khách đến Bình Thuận vào năm 2012, lượng khách quốc tế đạt khoảng 195.200 lượt. Tỷ lệ khách quốc tế chỉ chiếm dao động quanh mức gần 10%, cho thấy thương hiệu điểm đến của địa phương trên thị trường toàn cầu vẫn còn nhiều dư địa cần đẩy mạnh xúc tiến.

Đề tài đã sử dụng cỡ mẫu và phương pháp điều tra xã hội học như thế nào?

Nghiên cứu tiến hành phát 300 phiếu điều tra và thu về 253 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 84,33%) từ các du khách nội địa trong giai đoạn từ tháng 12/2012 đến tháng 06/2013. Bảng câu hỏi gồm 9 tiêu chí đánh giá định lượng được triển khai tại 6 địa bàn du lịch trọng điểm: Đồi Cát Bay, Hòn Rơm, Suối Tiên, Bãi đá màu Bình Thạnh, Bãi đá Ông Địa và Lầu Ông Hoàng.

Những rào cản hạ tầng lớn nhất ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận điểm đến Bình Thuận là gì?

Rào cản lớn nhất là tỉnh chưa có sân bay thương mại và tuyến đường cao tốc chuyên dụng kết nối nhanh với Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng cách 200 km). Mặc dù mạng lưới đường bộ nội tỉnh đạt 1.744 km với 412,15 km quốc lộ, giao thông thủy trên sông suối bị hạn chế vào mùa mưa và tuyến giao thông kết nối các tỉnh Tây Nguyên qua quốc lộ 28 chưa thực sự đồng bộ.

Mô hình lý thuyết nào là trọng tâm trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến của luận văn?

Luận văn kết hợp mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1980) với khung đánh giá điểm đến tích hợp của Dwyer và Kim (2003) cùng hệ thống tiêu chí định tính - định lượng của Metin Kozak. Các mô hình này cho phép xem xét toàn diện các yếu tố tài nguyên sẵn có, tài nguyên sáng tạo, khả năng quản trị điểm đến và điều kiện cầu thị trường.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hệ thống hóa và vận dụng thành công khung lý thuyết cạnh tranh điểm đến của Porter, Dwyer & Kim vào phân tích thực tiễn du lịch tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2008 - 2013.
  2. Xác định rõ thế mạnh tự nhiên vượt trội với 192 km bờ biển và 4 dạng địa hình đặc trưng, song chỉ ra điểm nghẽn lớn về hạ tầng giao thông kết nối đối ngoại và tỷ trọng khách quốc tế khiêm tốn (dưới 10% trên tổng 2.650.000 lượt khách năm 2012).
  3. Khảo sát thực chứng với 253 phiếu hợp lệ phản ánh chính xác khoảng cách giữa mức độ hài lòng về tài nguyên thiên nhiên và chất lượng các dịch vụ bổ trợ, nguồn nhân lực.
  4. Đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động có tính khả thi cao nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững theo Quy hoạch du lịch Bình Thuận tầm nhìn 2020 - 2030.
  5. Luận văn là cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn giá trị; các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác các phát hiện này để xây dựng Bình Thuận thành trung tâm du lịch thể thao biển mang tầm vóc quốc tế.