Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi" do sinh viên Phạm Mai Khanh thực hiện tại Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023), đặt trong bối cảnh ngành du lịch đang từng bước khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. Đồng thời, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị cũng đã xác định rõ mục tiêu quy hoạch huyện đảo Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển, đảo của quốc gia.
Huyện đảo Lý Sơn (trước đây gọi là Cù Lao Ré) được thành lập vào ngày 01/01/1993, nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 15 hải lý, gồm hai đảo là Đảo Lớn và Đảo Bé (Cù Lao Bờ Bãi). Về địa chất, huyện đảo được hình thành từ hoạt động phun trào của núi lửa vào cuối kỷ Neogen, để lại 5 ngọn núi lửa đã tắt cùng lớp đất bazan màu mỡ. Đây là tiền đề hình thành nên sản vật hành, tỏi nổi tiếng với danh xưng "Vương quốc tỏi" hay "Vàng trắng". Bên cạnh cảnh quan tự nhiên hoang sơ và hệ sinh thái biển phong phú, Lý Sơn còn giữ vị trí chiến lược an ninh quốc phòng trên Biển Đông, lưu giữ nhiều tư liệu, chứng tích lịch sử khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Huyện đảo sở hữu các giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (tại Di tích Quốc gia Đình làng An Vĩnh và các tộc họ xã An Hải) và Lễ hội đua thuyền truyền thống (được công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia vào tháng 9/2020), cùng các di tích khảo cổ học thuộc văn hóa Sa Huỳnh (Xóm Ốc, Suối Chình) và văn hóa Chămpa.
Mặc dù có nhiều tiềm năng to lớn, thực tiễn phát triển du lịch tại Lý Sơn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn thiếu hụt, chưa đồng bộ.
- Hoạt động kinh doanh du lịch của người dân phần lớn mang tính tự phát, quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết chuỗi dịch vụ.
- Nguồn nhân lực tại chỗ chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn ngành du lịch.
- Sản phẩm và dịch vụ du lịch còn đơn điệu, ngoài thương hiệu tỏi Lý Sơn thì các sản phẩm quà tặng, dịch vụ bổ trợ khác chưa có thương hiệu riêng.
- Vấn đề ô nhiễm môi trường, rác thải chưa được xử lý triệt để; tình trạng chèo kéo khách vẫn còn diễn ra, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh điểm đến.
- Doanh thu và lượng khách biến động thất thường; dịp Tết năm 2023, lượng khách đến đảo sụt giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của các cơ sở kinh doanh lưu trú, dịch vụ ăn uống và ngân sách địa phương.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:
- Mục đích chung: Vận dụng hệ thống cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho điểm đến này.
- Mục đích cụ thể:
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn đến năm 2030.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đối tượng khảo sát: Du khách đã từng tham quan, du lịch tại huyện đảo Lý Sơn trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây (giai đoạn từ năm 2019 đến 3 tháng đầu năm 2023).
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ ngày 29/12/2022 đến ngày 10/05/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên sự tổng hợp các khái niệm học thuật và khung lý thuyết về điểm đến và năng lực cạnh tranh (NLCT) điểm đến du lịch từ các tổ chức quốc tế và các học giả chuyên ngành:
- Khái niệm điểm đến du lịch: Tác giả trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và nghiên cứu của Trần Ngọc Liên và cộng sự (2021), xác định điểm đến là một vùng không gian địa lý nơi du khách lưu trú ít nhất một đêm, tích hợp các tài nguyên du lịch, sản phẩm, dịch vụ bổ trợ, có ranh giới hành chính quản lý và hình ảnh nhận diện trên thị trường.
- Khái niệm năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Dựa trên các nghiên cứu của OECD, Larry Dwyer và Chulwon Kim (2003), José Antonio Salinas Fernández và cộng sự (2020), Trần Thu Phương và cộng sự (2023), tác giả định nghĩa NLCT điểm đến du lịch là khả năng tạo lập và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch có giá trị cao, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách vượt trội hơn so với các điểm đến đối thủ, bảo đảm phát triển kinh tế bền vững và nâng cao đời sống dân cư địa phương.
Về mô hình phân tích, tác giả kế thừa mô hình của Larry Dwyer (2003), nghiên cứu về NLCT doanh nghiệp du lịch Bến Tre của Nguyễn Thành Long (2016), nghiên cứu NLCT doanh nghiệp du lịch Quảng Ngãi của Phạm Việt Hùng và cộng sự (2017), mô hình đo lường NLCT điểm đến du lịch Bạc Liêu của Nguyễn Thanh Sang và Nguyễn Phú Son (2018), cùng nghiên cứu NLCT điểm đến Vĩnh Phúc của Trần Thu Phương và cộng sự (2023). Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 04 nhóm yếu tố tác động tích cực đến NLCT điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn:
| Nhóm yếu tố |
Mã hóa thang đo |
Số lượng biến quan sát |
Nội dung đo lường chính |
| Sức hấp dẫn tự nhiên |
HDTN (1 - 5) |
05 biến |
Phong cảnh hoang sơ; hệ sinh thái biển; danh lam thắng cảnh; khí hậu ôn hòa; hoạt động nông/ngư nghiệp. |
| Sức hấp dẫn văn hóa |
HDVH (1 - 4) |
04 biến |
Kiến trúc chùa chiền; tín ngưỡng thờ cúng; lễ hội phong tục truyền thống; di tích lịch sử - văn hóa. |
| Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật |
CSVC (1 - 13) |
13 biến |
Số lượng và chất lượng khu vui chơi; số lượng và chất lượng lưu trú; nhà hàng quán ăn; tiện nghi mua sắm; viễn thông; hệ thống điện; hệ thống nước ngọt; giao thông đường bộ; cầu cảng; cơ sở y tế. |
| Hình ảnh điểm đến |
HADD (1 - 6) |
06 biến |
Giá cả cạnh tranh; hiệu ứng đám đông; môi trường sạch đẹp; an toàn/an ninh; tính hiếu khách của người dân; vị thế đảo tiền tiêu bảo vệ chủ quyền. |
| Sản phẩm và dịch vụ du lịch |
SP&DV (1 - 6) |
06 biến |
Ẩm thực đặc trưng; thông tin và hướng dẫn du lịch; tính đa dạng của sản phẩm; thái độ nhân viên phục vụ; số lượng nhân viên; các dịch vụ bổ trợ xung quanh. |
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm hai nhánh chính:
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
- Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các tạp chí chuyên ngành, báo cáo thống kê của Ủy ban nhân dân (UBND) huyện đảo Lý Sơn, văn bản Cổng thông tin điện tử Chính phủ (số 285/CP-TTĐT), các bài báo khoa học liên quan.
- Vận dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch của ba quốc gia trong khu vực: Singapore (làm mới sản phẩm, tổ hợp giải trí Resort World Sentosa trị giá 6,59 tỷ SGD, hạ tầng kết nối), Thái Lan (hệ thống tàu điện trên không Skyrail, phát triển chợ đêm Chatuchak, du lịch đường sông, ẩm thực đặc trưng và chính sách kích cầu giá vé), và Trung Quốc (chiến lược "Du lịch xanh" từ năm 1999, đầu tư bảo tồn cảnh quan và di tích lịch sử kết hợp thương mại hóa dịch vụ).
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Tiến hành khảo sát du khách từng đến Lý Sơn trong vòng 5 năm (2019 đến đầu năm 2023) qua bảng hỏi trực tuyến (Google Form, Zalo, Facebook).
- Tổng số phiếu thu về là 87 phiếu. Sau khi sàng lọc, tác giả loại bỏ 21 phiếu không hợp lệ (do mục đích chuyến đi là thăm người thân, đầu tư hoặc tìm kiếm cơ hội việc làm, không thuộc nhóm khách du lịch thuần túy), giữ lại 66 phiếu khảo sát hợp lệ để thực hiện thống kê mô tả, đánh giá điểm trung bình (Mean) của từng tiêu chí và biến tổng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ các luận điểm lý thuyết về điểm đến và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch. Tác giả phân tích các cấu phần tạo nên sức cạnh tranh theo quan điểm của các tổ chức quốc tế và các nghiên cứu đi trước, chỉ ra rằng NLCT điểm đến không chỉ đơn thuần là số lượng khách ghé thăm mà còn là khả năng mang lại trải nghiệm chất lượng, nâng cao thu nhập cho cư dân và bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.
Phần kinh nghiệm quốc tế cung cấp những bài học thực tiễn giá trị:
- Singapore cho thấy bài học về việc liên tục đổi mới, đầu tư các công trình phức hợp có quy mô bài bản (điển hình như Universal Studios và Resort World Sentosa) và hệ thống giao thông công cộng kết nối thuận tiện.
- Thái Lan thể hiện sự linh hoạt trong việc phát huy bản sắc văn hóa ẩm thực bản địa, chuyên nghiệp hóa thái độ phục vụ của người dân và khai thác hiệu quả các tuyến giao thông công cộng, du lịch đường thủy.
- Trung Quốc đem lại kinh nghiệm về quản lý vĩ mô, chiến lược du lịch sinh thái gắn với công nghệ xử lý chất thải phế liệu và các chính sách quy hoạch tổng thể đồng bộ giữa bảo tồn di tích cổ kính và phục vụ thương mại.
Trên nền tảng lý thuyết và bài học kinh nghiệm, tác giả xác lập mô hình nghiên cứu riêng cho huyện đảo Lý Sơn, đưa ra hệ thống 4 giả thuyết (H1, H2, H3, H4) về mối quan hệ tác động tích cực của 4 nhân tố: Sức hấp dẫn điểm đến, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, Hình ảnh điểm đến, Sản phẩm và dịch vụ du lịch tới NLCT chung của đảo. Hệ thống thang đo gồm 34 biến quan sát được mã hóa chi tiết làm căn cứ cho việc khảo sát định lượng ở chương tiếp theo.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 2 trình bày chi tiết bức tranh tổng quan về điều kiện địa lý tự nhiên, di sản văn hóa, thực trạng khai thác du lịch và các dữ liệu định lượng thu thập được tại huyện đảo Lý Sơn:
- Đặc điểm không gian và tài nguyên: Huyện đảo có diện tích 10,390 km², dân số 22.174 người, mật độ dân số đạt 2.134 người/km² (theo số liệu Cổng thông tin điện tử tổng hợp số 285/CP-TTĐT năm 2020). Tọa độ địa lý từ 15°32'04" đến 15°38'14" vĩ độ Bắc và 109°05'04" đến 109°14'12" kinh độ Đông. Đảo Bé có diện tích dưới 1 km² với khoảng 100 hộ dân (hơn 500 nhân khẩu), cách Đảo Lớn khoảng 3 hải lý (hơn 5 km).
- Hệ thống danh lam thắng cảnh và di tích: Toàn huyện có 03 di tích cấp Quốc gia (Đình làng An Hải, Chùa Hang, Đình làng An Vĩnh) và 07 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh; các thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng gồm Đỉnh núi Thới Lới (cao gần 170m so với mực nước biển, có cột cờ Tổ quốc và hồ nước ngọt), Hang Câu, Chùa Đục, bãi biển Đảo Bé; các sản vật đặc trưng gồm tỏi non xào, hải sản (cua Huỳnh Đế, tôm hùm, ốc Mặt Trăng, nhum biển, chả cá Lý Sơn).
Về số liệu phát triển du lịch, tác giả tổng hợp tình hình thực tế qua các mốc thời gian:
| Chỉ tiêu thống kê |
Năm 2016 |
Năm 2019 |
3 tháng đầu năm 2023 |
| Tổng lượt khách du lịch |
- |
265.000 lượt (tăng 34.680 lượt so với 2018) |
Gần 11.000 lượt |
| Tốc độ tăng trưởng bình quân |
14,8% (giai đoạn 2016 - 2019) |
14,8% |
Phục hồi tăng ~50% so cùng kỳ 2021 |
| Lao động ngành du lịch |
- |
1.855 trực tiếp; ~5.000 gián tiếp |
- |
| Thu nhập bình quân đầu người |
23.300.000 đồng/người/năm |
Trên 39.600.000 đồng/người/năm |
- |
| Hạ tầng lưu trú |
- |
135 cơ sở (1.069 phòng): 17 khách sạn, 55 nhà nghỉ, 63 homestay |
- |
| Đơn vị lữ hành và hướng dẫn viên |
- |
04 đơn vị lữ hành nội địa; 32 hướng dẫn viên được cấp thẻ |
- |
| Lưu lượng vận tải hành khách |
- |
- |
08 chuyến tàu/ngày (600 - 700 khách/ngày thường; 1.400 khách/ngày cuối tuần) |
Phân tích ma trận SWOT của đề tài chỉ ra rõ nét:
- Điểm mạnh: Cảnh quan hoang sơ, hệ thống di tích độc đáo, ẩm thực đặc trưng, người dân thật thà, thân thiện, tình hình an ninh trật tự an toàn cao (hiện tượng mất cắp hầu như không có, tiệm vàng ở chợ không cần người trông coi khắt khe).
- Điểm yếu: Hoạt động mang tính mùa vụ sâu sắc (du lịch chỉ sôi động từ tháng 2 đến tháng 9, đóng băng vào mùa đông biển động từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau); cơ sở hạ tầng thiếu hụt nghiêm trọng (toàn huyện chỉ có 01 xe thu gom rác, nhà máy xử lý rác quá tải; điện nước ngọt thiếu thốn vào mùa cao điểm); nhân lực thiếu nghiệp vụ; sản phẩm quà tặng chưa phong phú.
- Cơ hội: Được hỗ trợ bởi chính sách quy hoạch trung tâm du lịch biển đảo theo Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị; vị trí kết nối thuận lợi gần Khu kinh tế Dung Quất, cảng Sa Kỳ.
- Thách thức: Áp lực cạnh tranh trực tiếp từ các điểm đến lân cận miền Trung (Đà Nẵng, Huế) và các điểm đến du lịch đảo phát triển khác (Phú Quốc, Phú Quý).
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích thực trạng, chương 3 đề ra định hướng phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đồng thời thiết lập hệ thống 05 nhóm giải pháp cụ thể:
- Tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Tập trung nâng cấp đồng bộ mạng lưới giao thông nội đảo, nâng cấp hệ thống cầu cảng phục vụ tàu cao tốc cập bến an toàn; mở rộng mạng lưới điện lưới, bảo đảm cung cấp nước ngọt sinh hoạt ổn định cho người dân và cơ sở lưu trú; đầu tư xây dựng các khu dịch vụ vui chơi giải trí đạt chuẩn.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch: Khai thác tối đa tính độc đáo của văn hóa biển đảo kết hợp du lịch tâm linh (Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, tham quan các di tích khảo cổ, chùa Hang); xây dựng các tour trải nghiệm nông nghiệp tại ruộng hành tỏi; phát triển các gói sản phẩm lặn ngắm san hô tại Đảo Bé theo hướng an toàn; xây dựng thương hiệu chứng nhận chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản ẩm thực ngoài tỏi.
- Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch: Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ lễ tân, buồng phòng, chế biến món ăn và kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ cho các chủ hộ kinh doanh homestay và nhân viên nhà hàng; chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm; nâng cao nhận thức cộng đồng về văn hóa ứng xử du lịch văn minh, chấm dứt hoàn toàn tình trạng chèo kéo du khách.
- Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh điểm đến: Xây dựng cổng thông tin du lịch trực tuyến chuyên nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng marketing số qua mạng xã hội, các nền tảng số du lịch; xây dựng các thông điệp truyền thông nhấn mạnh vào giá trị lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng và hình ảnh con người Lý Sơn thân thiện, an toàn.
- Bảo vệ môi trường sinh thái biển đảo: Đầu tư nâng cấp công suất nhà máy xử lý rác thải hiện hữu, bổ sung thêm xe chuyên dụng thu gom rác trên các tuyến đường; kiểm soát nghiêm ngặt hành vi xả rác tại các bãi tắm, khu danh thắng tự nhiên; khuyến khích các cơ sở kinh doanh hạn chế rác thải nhựa một lần và bảo tồn rạn san hô, hệ sinh thái biển nguyên sơ.
Ngoài ra, tác giả đề xuất các kiến nghị cụ thể:
- Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hỗ trợ kinh phí và hướng dẫn nghiệp vụ trong việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cấp Quốc gia; đưa các sự kiện văn hóa truyền thống của Lý Sơn vào chương trình xúc tiến du lịch cấp quốc gia.
- Đối với UBND tỉnh Quảng Ngãi: Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hạ tầng du lịch biển đảo; phê duyệt kế hoạch quy hoạch tổng thể đất đai cho du lịch; đầu tư đồng bộ cho công tác vận chuyển hành khách tuyến Sa Kỳ - Lý Sơn.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể phản ánh qua dữ liệu thực nghiệm:
- Lập bảng tổng hợp hệ thống 34 biến quan sát đo lường NLCT điểm đến phù hợp với đặc thù kinh tế biển đảo, kiểm chứng qua khảo sát 66 du khách thực tế.
- Khái quát bức tranh tăng trưởng kinh tế - xã hội gắn với du lịch của huyện đảo: Đến năm 2019, lượng khách đạt 265.000 lượt, thu nhập bình quân người dân đạt trên 39,6 triệu đồng/năm (tăng gấp 17 lần so với năm 1993 khi mới thành lập huyện), tạo việc làm cho 1.855 lao động trực tiếp và khoảng 5.000 lao động gián tiếp; quy mô lưu trú đạt 135 cơ sở với 1.069 phòng.
- Đánh giá được mức độ phục hồi du lịch hậu Covid-19: Trong 3 tháng đầu năm 2023 đạt gần 11.000 lượt khách, lượng khách qua cảng đạt từ 600 - 700 khách/ngày thường và lên tới 1.400 khách/ngày vào cuối tuần.
- Chỉ rõ 4 nhóm yếu tố tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của huyện đảo, trong đó sức hấp dẫn tự nhiên, văn hóa và hình ảnh sự thân thiện, an toàn của người dân là những trụ cột thế mạnh lớn nhất cần tiếp tục duy trì.
- Xây dựng 05 nhóm giải pháp xuất phát trực tiếp từ các tồn tại hạn chế về hạ tầng rác thải, tính mùa vụ và nguồn nhân lực được bộc lộ trong ma trận SWOT.
Về đóng góp so với các nghiên cứu trước, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát trực tiếp du khách và xây dựng mô hình các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh riêng biệt cho điểm đến du lịch huyện đảo Lý Sơn, bổ sung cơ sở khoa học cho công tác quản lý du lịch tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được văn bản ghi nhận:
- Dung lượng mẫu khảo sát hợp lệ còn tương đối khiêm tốn (thu thập 87 phiếu, sử dụng 66 phiếu khảo sát hợp lệ), phương thức thu thập qua hình thức trực tuyến (Google Form, Zalo, Facebook) nên tính đại diện chưa bao quát hết các nhóm đối tượng du khách đa dạng ở các độ tuổi và phân khúc chi tiêu khác nhau.
- Các phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở mức độ thống kê mô tả, phân tích điểm trung bình các biến mà chưa áp dụng các mô hình kinh lượng sâu hơn (như kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA hay phân tích hồi quy đa biến) để đo lường chính xác mức độ tác động cụ thể của từng biến số.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần mở rộng quy mô chọn mẫu khảo sát trực tiếp tại các điểm đến chính trên đảo và các bến cảng trung chuyển (cảng Sa Kỳ, cảng Lý Sơn) qua các mùa du lịch khác nhau nhằm phản ánh toàn diện ý kiến của du khách.
- Áp dụng các mô hình phân tích định lượng nâng cao nhằm xác định trọng số tác động của từng yếu tố đến năng lực cạnh tranh và sự hài lòng của khách du lịch.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên các ngành Quản trị Kinh doanh, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Kinh tế phát triển khi xây dựng khóa luận tốt nghiệp về đề tài năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, phát triển du lịch biển đảo hoặc du lịch nông thôn.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng tổng hợp thang đo chi tiết (Bảng 1.1 gồm 34 biến quan sát trích xuất từ các nghiên cứu trong và ngoài nước), hệ thống số liệu thực trạng về lượng khách, cơ sở lưu trú năm 2019 và quý 1/2023 tại Chương 2, cùng ma trận SWOT phân tích thực trạng huyện đảo Lý Sơn.
- Cơ quan quản lý và doanh nghiệp địa phương: Cung cấp thông tin thực chứng hữu ích cho UBND huyện đảo Lý Sơn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi cùng các doanh nghiệp, hộ kinh doanh lữ hành, homestay trong việc xây dựng chiến lược sản phẩm và cải thiện chất lượng phục vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mẫu khảo sát bao nhiêu du khách và tiêu chí sàng lọc phiếu hợp lệ là gì?
Nghiên cứu tiến hành thu thập 87 phiếu trả lời khảo sát trực tuyến qua Google Form, Facebook và Zalo từ những du khách đã từng đến đảo Lý Sơn trong 5 năm trở lại đây. Tác giả đã loại bỏ 21 phiếu không hợp lệ vì mục đích đến đảo của người trả lời là để tìm kiếm cơ hội làm việc, đầu tư hoặc thăm người thân (không phản ánh đúng trải nghiệm du lịch thuần túy), thu về 66 phiếu khảo sát hợp lệ để tiến hành xử lý số liệu.
2. Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả gồm những yếu tố cụ thể nào tác động đến năng lực cạnh tranh du lịch Lý Sơn?
Mô hình nghiên cứu gồm 04 nhóm yếu tố chính tác động tích cực đến NLCT điểm đến: (1) Sức hấp dẫn điểm đến du lịch (chia làm tự nhiên và văn hóa, tâm linh); (2) Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật; (3) Hình ảnh điểm đến; và (4) Sản phẩm và dịch vụ du lịch. Tác giả thiết lập 4 giả thuyết H1, H2, H3, H4 tương ứng với 4 nhóm yếu tố này.
3. Trước khi chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, du lịch Lý Sơn đạt những chỉ số phát triển nổi bật nào trong năm 2019?
Năm 2019, huyện đảo đón gần 265.000 lượt khách (tăng 34.680 lượt so với năm 2018), tốc độ tăng trưởng bình quân lượt khách giai đoạn 2016-2019 đạt 14,8%. Toàn huyện có 135 cơ sở lưu trú với 1.069 phòng (17 khách sạn, 55 nhà nghỉ, 63 homestay), 04 doanh nghiệp lữ hành nội địa, 32 hướng dẫn viên tại điểm được cấp thẻ. Ngành du lịch giải quyết việc làm cho 1.855 lao động trực tiếp và khoảng 5.000 lao động gián tiếp; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 39,6 triệu đồng/năm.
4. Điểm yếu lớn nhất về hạ tầng kỹ thuật và môi trường tại huyện đảo Lý Sơn được văn bản ghi nhận là gì?
Hạ tầng môi trường của huyện đảo gặp nhiều khó khăn khi toàn huyện chỉ có 01 xe thu gom rác, nhà máy xử lý rác không đủ công suất vận hành dẫn đến quá tải; hệ thống cung cấp điện và nước ngọt chưa đáp ứng tốt nhu cầu vào mùa cao điểm du lịch; cùng với đó là việc thiếu hụt nguồn nhân lực du lịch có chuyên môn cao và tính mùa vụ sâu sắc khiến hoạt động du lịch gần như đóng băng vào mùa đông.
5. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chính nào nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Lý Sơn đến năm 2030?
Hệ thống giải pháp gồm 05 nhóm: (1) Tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật; (2) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch; (3) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch; (4) Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh điểm đến; (5) Bảo vệ môi trường sinh thái biển đảo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Mai Khanh đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch và áp dụng vào nghiên cứu thực tiễn tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thông qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2023 kết hợp khảo sát 66 du khách hợp lệ, đề tài đã làm rõ các thế mạnh về cảnh quan, di sản văn hóa, đồng thời vạch ra những nút thắt lớn về hạ tầng xử lý rác thải, cơ sở lưu trú và tính mùa vụ. Hệ thống 05 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo có giá trị ứng dụng cho chính quyền địa phương và các doanh nghiệp trong việc hiện thực hóa mục tiêu đưa Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo bền vững theo định hướng của Trung ương và tỉnh Quảng Ngãi.