phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương. Chƣơng 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh dịch vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ điện thoại di động Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ điện thoại di động của Công ty Dịch vụ viễn thông (Vinaphone) Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ điện thoại di động của Công ty Dịch vụ viễn thông (Vinaphone) 4 z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 1. Năng lực cạnh tranh dịch vụ của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ điện thoại di động 1. Cạnh tranh Cạnh tranh là một hiện tượng xã hội phức tạp, có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới những góc độ khác nhau: Theo K.
Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Từ điển kinh doanh xuất bản tại Anh năm 1992 định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa cạnh tranh như sau: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ sử dụng định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc 5 z gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Nhìn chung, khái niệm cạnh tranh được hiểu đơn giản là sự tranh đua giành giật giữa các chủ thể có quan hệ với nhau, để đạt một vị trí hay mục đích nào đó trong lĩnh vực mà họ tham gia. Đối với doanh nghiệp, mục tiêu đặt ra khi tham gia thị trường thường là tối đa hoá lợi nhuận.
Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp cần phải tìm các biện pháp để giành được vị thế cao trên thị trường. Ở Việt Nam, trước Đại hội Đại biểu lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, thường sử dụng thuật ngữ thi đua, coi thi đua là một khẩu hiệu để hành động. Bởi vì nền tảng kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) chiếm vị trí tuyệt đối trong xã hội. Nền tảng kinh tế đó đã sản sinh ra cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung.
Trong đó các chủ thể kinh tế không có quyền tự do quyết định cái gì sẽ được sản xuất, cái gì sẽ được tiêu dùng, phong trào thi đua để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch trong các chương trình đã được Nhà nước định trước. Bản chất thi đua không phải là cạnh tranh. Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phong trào thi đua vẫn tồn tại, nhưng đã xuất hiện mầm mống của cạnh tranh. Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng, đến nay thuật ngữ cạnh tranh dần dần được sử dụng phổ biến rộng rãi.
Cạnh tranh đã ngấm 6 z ngầm luồn lách, len lỏi vào cuộc sống của người dân. Cạnh tranh đã bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống từ vi mô đến vĩ mô, từ cấp quốc gia đến doanh nghiệp, thậm chí xâm nhập đến từng cá nhân. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được phân biệt ở 3 cấp độ: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ. Năng lực cạnh tranh của quốc gia Diễn đàn kinh tế thế giới (VEF- World Economic Forum) định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền.
Theo quan niệm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào 9 tiêu chí chủ yếu là: thể chế kinh tế; hệ thống cơ sở hạ tầng; năng lực kinh tế vĩ mô; hệ thống giáo dục và y tế phổ thông; trình độ giáo dục đại học; hiệu quả vận hành của cơ chế thị trường; mức độ sẵn sàng về công nghệ; mức độ hài lòng doanh nghiệp và mức độ sáng tạo. Kinh tế học dựa vào bốn yếu tố sau để lượng hóa năng lực đổi mới: Điều kiện tiêu dùng; Yếu tố sản xuất; Các ngành bổ trợ có liên quan; Những điều kiện cạnh tranh của các doanh nghiệp, chính sách cạnh tranh của từng quốc gia. Năng lực cạnh tranh quốc gia mà nhiều tổ chức nghiên cứu phát biểu chính là sự so sánh về các chỉ số cụ thể của bốn tiêu chí này. Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên năng suất lao động, Michael Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động”.
Mở rộng khái niệm này thì năng lực cạnh trạnh của quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế so sánh. Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricacdo thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là một hệ 7 z thống gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các doanh nghiệp, giữ vai trò quyết định, cho phép các doanh nghiệp sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Phần lớn các Nhà kinh tế học đều gắn năng lực cạnh tranh doanh nghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, hoặc gắn năng lực cạnh tranh với vị trí của doanh nghiệp trên thị trường theo thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức, quản trị kinh doanh hướng vào đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay gia tăng lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được xem là có năng lực cạnh tranh khi nó duy trì được vị thế của mình trên thị trường với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, chất lượng cao hơn. Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn. Một quan niệm khác cho rằng: “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng trên một thị trường mục tiêu”. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Khi đề cập năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, không thể không đề cập năng lực cạnh tranh các sản phẩm, dịch vụ (SP-DV) do doanh nghiệp đó 8 z tạo ra.
Năng lực cạnh tranh của SP-DV là khả năng SP-DV đó bán được nhiều và nhanh chóng. Cho đến nay các nhà kinh tế học chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về năng lực cạnh tranh SP-DV, mà hầu như dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng: năng lực cạnh tranh của SP- DV là sự vượt trội của nó so với SP- DV cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Một ý kiến khác cho rằng: Năng lực cạnh tranh của SP- DV chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần SP–DV của doanh nghiệp.
Tóm lại: - Năng lực cạnh tranh của SP-DV được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chính như: Giá rẻ, chất lượng cao, tiện ích, uy tín, thương hiệu… - Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh, ngược lại để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh phải ổn định, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh các SP-DV. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Mặt khác năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các SP-DV mà doanh nghiệp cung cấp cho người tiêu dùng - Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của SP-DV vừa là bộ phận cấu thành, vừa là một trong những mục tiêu của nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dịch vụ điện thoại di động Một cách khái quát nhất có thể định nghĩa sơ bộ dịch vụ điện thoại di động là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp cho người sử dụng, giúp người sử dụng liên lạc và kết nối với bạn bè, cộng đồng và thế giới.