Chương 1, tác giả sẽ trình bày bối cảnh chính sách, vấn đề chính sách, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, khung phân tích và phương pháp thu thập thông tin. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong Chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh, cụm ngành và tổng quan nghiên cứu về ngành điều tỉnh Bình Phước. Chương 3: Phân tích cụm ngành điều tỉnh Bình Phước Trong Chương 3, tác giả dựa trên khung phân tích mô hình kim cương Michael Porter để phân tích, đánh giá bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành điều tỉnh Bình Phước. Trên cơ sở đó, chỉ ra đâu là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy và kìm hãm năng lực cạnh tranh của cụm ngành điều tỉnh Bình Phước.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị chính sách Trong Chương 4, tác giả sẽ đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với các tác nhân liên quan đến hoạt động của cụm ngành điều tỉnh Bình Phước (nông dân, doanh nghiệp, hiệp hội điều, tổ chức tín dụng…) nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của cụm ngành điều tỉnh Bình Phước trong bối cảnh hiện nay. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Theo Michael Porter, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất, trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian. Với vai trò trung tâm của năng suất trong khuôn khổ phân tích năng lực cạnh tranh, theo Michael Porter, có ba nhóm nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia, bao gồm: (i) Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô của địa phương; (ii) Năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương như hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hạ tầng kỹ thuật, chính sách tài khóa, đầu tư; (iii) Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp như môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp.
Lý thuyết về cụm ngành Cụm ngành được định nghĩa là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau” (Michael Porter). Xét về phạm vi địa lý, cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay thậm chí là một nhóm các quốc gia lân bang. Cụm ngành được hình thành và phát triển dựa trên những yếu tố mang tính đặc thù về điều kiện tự nhiên, nhân tố sản xuất; điều kiện thuận lợi về nhu cầu; sự phát triển của cụm ngành liên quan khác; sự hình thành của một vài doanh nghiệp chủ chốt và đầu tư của nhà nước. Khuôn khổ lý thuyết được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành chính là mô hình kim cương của Michael Porter.
Theo đó, mô hình kim cương gồm bốn nhân tố: (i) Điều kiện yếu tố đầu vào: cơ sở hạ tầng, nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất và nguồn kiến thức; (ii) Các yếu tố điều kiện cầu: nhu cầu trong và ngoài nước; (iii) Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh: các quy định và động lực khuyến khích đầu tư và năng suất; độ mở và mức độ cạnh tranh trong nước; (iv) Ngành công nghiệp phụ trợ: sự có mặt của các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Mô hình kim cương của Michael Porter Vai trò của Nhà nước Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh Điều kiện Điều kiện nhân tố cầu đầu vào Các ngành hỗ trợ và có liên quan Nguồn: Michael Porter, 2008 Trong nghiên cứu này, tác giả đi vào nghiên cứu tổng quan các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành điều tỉnh Bình Phước. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh các yếu tố cốt lõi tác động đến khâu chế biến trong chuỗi giá trị ngành điều, cụ thể là: các yếu tố điều kiện cầu (chất lượng sản phẩm, mức độ đa dạng hóa sản phẩm), các yếu tố bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh (công nghiệp chế biến, thương hiệu điều tỉnh Bình Phước). Tổng quan nghiên cứu về ngành điều tỉnh Bình Phước Trong ngành điều, chưa có nghiên cứu sâu nào về cụm ngành điều tỉnh Bình Phước trước đó.
Tuy nhiên, đã có những nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành điều với điển hình tại Bình Phước. Nghiên cứu “Vai trò của doanh nghiệp chế biến trong chuỗi giá trị ngành điều Việt Nam” (Nguyễn Anh Phong, Nguyễn Ngọc Quế và cộng sự, 2008) được thực hiện tại tỉnh Bình Phước và Đồng Nai đã đánh giá tổng quan ngành điều, phân tích chuỗi giá trị, đánh giá khả năng cạnh tranh và xác định vai trò của ngành chế biến trong chuỗi giá trị điều Việt Nam. Theo đó, nghiên cứu này chỉ ra lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh của ngành điều Việt Nam so với thị trường thế giới là ở năng suất cao, chất lượng ngon và 9 khâu chế biến. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra những giải pháp cụ thể để góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành điều Việt Nam nói chung.
Ngoài ra, nghiên cứu “Chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ điều ở tỉnh Bình Phước” (Tạ Quốc Tuấn và cộng sự, 2015) đã chỉ ra những bất cập trong các khâu thuộc chuỗi giá trị ngành điều nhưng chưa chỉ ra các yếu tố cốt lõi dẫn đến những bất cập này. Trên cơ sở đó, các giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị ngành điều tỉnh Bình Phước mà nhóm tác giả đưa ra chưa thật sự sâu sát, cụ thể và còn mang tính khái quát. 10 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH ĐIỀU TỈNH BÌNH PHƯỚC 3. Điều kiện yếu tố đầu vào 3.
Điều kiện tự nhiên Về đất đai, Bình Phước có tổng diện tích đất tự nhiên là 687.676 ha, chia làm 7 nhóm chính với 13 loại đất, trong đó đất có chất lượng cao như đất đen, đất đỏ bazan, đất phù sa chiếm 61,13% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh; đất chất lượng trung bình chiếm 36,9%. Có thể nói, Bình Phước có chất lượng đất tương đối tốt so với mặt bằng chung của cả nước và là một điều kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như điều, cao su, cà phê, tiêu… Hiện tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 620.848 ha, chiếm 90,28% tổng diện tích đất tự nhiên và được chia làm 04 nhóm đất chính: đất sản xuất nông nghiệp (446.295 ha); đất lâm nghiệp (172.858 ha); đất nuôi trồng thủy sản (1.138 ha) và đất nông nghiệp khác (557 ha). Trong khi đó, diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng chỉ có 12.983 ha, chiếm 1,89% tổng diện tích đất tự nhiên. Có thể nói đây là một trong những hạn chế không nhỏ đối với việc phát triển nông nghiệp nói chung, trồng điều nói riêng xét trên khía cạnh cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Đặc biệt là trong điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, khó khăn trong việc cung cấp nguồn nước tưới khiến cho tiềm năng phát triển nông nghiệp chưa được phát huy đúng mức. Về khí hậu, Bình Phước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, được chia làm mùa mưa và mùa khô rõ rệt với nhiệt độ bình quân khá ổn định, từ 25,80c đến 26,20C. Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, trong đó nhiệt độ cao nhất vào các tháng 3,4,5 (khoảng 370C) và thấp nhất vào tháng 12 (190C). Tuy nhiên, sự biến động nhiệt độ vẫn nằm trong vùng giới hạn mà cây điều có thể sinh trưởng được (50C – 450C).
Lượng mưa bình quân hàng năm vào khoảng 2.325 mm, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và chiếm gần 90% tổng lượng mưa cả năm. Tuy nhiên, sự bắt đầu và kết thúc mùa mưa cũng biến động theo từng năm, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay, việc thay đổi thời điểm mưa và biến động lượng mưa đã gây ra khá nhiều bất lợi đối với ngành điều. 11 Có thể nói, Bình Phước có điều kiện tự nhiên, bao gồm đất đai, khí hậu rất phù hợp để cây điều sinh trưởng và phát triển. Theo đó, vùng Đông Nam Bộ nói chung và Bình Phước nói riêng có diện tích trồng điều lớn nhất cả nước.
Riêng Bình Phước xấp xỉ 134.000 ha, chiếm 50% tổng diện tích cả nước tính đến cuối năm 2015. Ở Bình Phước, điều trồng nhiều ở các huyện Phú Riềng, Bù Gia Mập, Bù Đăng và Đồng Phú, góp phần đem lại nguồn thu có giá trị kinh tế đối với người nông dân. Vốn Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy cho vay đối với nông dân và các hộ kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh điều. Trong đó, ngân hàng Nông nghiệp và Nông thôn tỉnh Bình Phước chiếm đến 90% dư nợ tín dụng đối với các đối tượng vay theo Nghị định 41 của Chính phủ.
Đến năm 2015, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. Theo đó, hạn mức tín dụng được mở rộng hơn theo nhiều mức và đặc biệt có quy định rõ mức tín dụng cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình đầu tư cây công nghiệp, ăn quả lâu năm, trong đó có cây điều. Quy định này đã mở ra cơ hội cho các hộ nông dân trồng điều trong việc tiếp cận nguồn lực tín dụng. Ngoài ra, các hợp tác xã tại tỉnh Bình Phước còn được ưu đãi về tín dụng theo Quyết định số 2179/2013/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Bình Phước về việc Phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã tại Bình Phước.
Trong đó, các Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã, Tổ hợp tác trên địa bàn tỉnh Bình Phước nếu có nhu cầu, có dự án vay vốn đầu tư khả thi để phát triển sản phẩm, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, xây dựng và nhân rộng mô hình mới, điển hình tiên tiến là đối tượng được cho vay đầu tư.