Chương I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Viễn thông. Chương II. Thực trạng năng lực cạnh tranh của VNPT Thanh Hóa.
Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VNPT Thanh Hóa. TỔNG QUAN C SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 1.1 Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ “cạnh tranh” đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao, nếu hiểu theo nghĩa cách tiếp cận giản đơn thì “cạnh tranh” là hành động ganh đua, tranh nhau của các cá nhân, các nhóm hay các loài để giành lấy sự tồn tại, lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh hay các phần thƣởng khác.
Trong nền kinh tế thị trƣờng thì cạnh tranh là quy luật tất yếu, khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, theo K. Mark: “Cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” [10]. Porter cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [15]. Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững” [20] Cạnh tranh là một điều kiện, là yếu tố kích thích kinh doanh, và là môi trƣờng động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp đƣợc hiểu là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Cạnh tranh ngày này không phải là tiêu diệt đối thủ bằng mọi giá mà là doanh 5 nghiệp phải tạo ra những giá trị riêng hoặc mang lại nhiều lợi ích gia tăng cho khách hàng nhằm lôi cuốn khách hàng mua sản phẩm của mình.
Nhƣ vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất về mặt kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trƣờng và khách hàng.2 Phân loại cạnh tranh Có nhiều tiêu thức dùng để phân loại cạnh tranh, hiện nay trong phân tích đánh giá ngƣời ta chủ yếu dùng các cách sau: ăn cứ theo đạo đức kinh doanh -Cạnh tranh lành mạnh: Là loại cạnh tranh tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật, đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội, cạnh tranh có tính chất thi đua mà qua đó mỗi chủ thể nâng cao đƣợc năng lực của chính mình mà không dùng các thủ đoạn nhằm triệt hạ đối phƣơng. -Cạnh tranh không lành mạnh: là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng. Nhƣ vậy cạnh tranh không lành mạnh là loại cạnh tranh trái ngƣợc hẳn với cạnh tranh lành mạnh trong đó các chủ thể cạnh tranh thực hiện các hành động đi ngƣợc lại đạo đức kinh doanh, đạo dức xã hội và pháp luật để chiến thắng đối thủ, cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt, kết quả sau cạnh tranh thƣờng là sự sụt giảm về lợi nhuận. Có nhiều thủ đoạn “đen”, chiêu thức bẩn trong cạnh tranh không lành mạnh nhƣ: tung tin đồn thất thiệt, mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc… ăn cứ theo cấp độ cạnh tranh -Cạnh tranh cấp quốc gia: Là sự ganh đua giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một lĩnh vực nào đó nhƣ kinh tế, quân sự, chính trị, thể thao nhằm đạt đƣợc mục tiêu của mình nhƣ tồn tại, sự thịnh vƣợng về kinh tế hay sự tự tôn dân tộc.
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho rằng, năng lực cạnh tranh của một quốc gia là: “Năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì đƣợc mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác.” Khi xét 6 đến cạnh tranh quốc gia ngƣời ta thƣờng phân tích trên quan điểm tổng thể chú trọng đến môi trƣờng vĩ mô và chính sách của chính phủ.Trên khía cạnh kinh tế, theo Porter thì cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm đem lại sự thịnh vƣợng cho quốc gia thông qua việc tạo dựng một môi trƣờng kinh doanh cùng với những thiết chế hỗ trợ cho phép một quốc gia sử dụng hiệu quả và nâng cấp nguồn lực đầu vào của nó. Năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đƣợc đầu tƣ, đảm bảo ổn định đƣợc kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của ngƣời dân [15]. - Cạnh tranh cấp doanh nghiệp: Diễn đàn kinh tế thế giới quan niệm: “Đối với doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trƣởng mới mang lại giá trị cho các cổ đông. Đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn” [20].
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau nhằm mục đích đầu tƣ có lợi hơn. Kết quả của hoạt động cạnh tranh này là sự hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân. - Cạnh tranh cấp sản phẩm, dịch vụ: là việc các doanh nghiệp đƣa ra các hàng hóa, dịch vụ có chất lƣợng cao, giá cả hợp lý, các dịch vụ hậu mãi và sau bán hàng hấp dẫn, đặc biệt là các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng cao hơn để thu hút khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình. Porter thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vƣợt trội của nó (về nhiều chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trƣờng [15].
ăn cứ theo chủ thể tham gia th tr ờng -Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua: Trong kinh tế thị trƣờng, sự cạnh tranh này đƣợc thể hiện qua quy luật cung cầu, trong đó ngƣời bán luôn muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất trong khi đó ngƣời mua luôn mong muốn mua đƣợc hàng hóa chất lƣợng cao nhất với giá thành thấp nhất. -Cạnh tranh giữa những ngƣời bán: những ngƣời cùng bán một loại mặt hàng hoặc các sản phẩm thay thế cùng cạnh tranh nhau để giành giật thị trƣờng, lợi nhuận. -Cạnh tranh giữa những ngƣời mua: thƣờng thì loại cạnh tranh này trở lên khốc liệt khi cung về một loại đầu vào trở nên khan hiếm, ngƣời mua hàng luôn 7 mong muốn mua đƣợc một hàng hóa đầu vào chất lƣợng cao với giá cả hợp lý và đồng thời nguồn cung này cần phải ổn định. ăn cứ vào t nh chất cạnh tranh trên th tr ờng - Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất và bán ra một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau, sản lƣợng của từng doanh nghiệp qúa nhỏ so với tổng số hàng hoá có trên thị trƣờng.
- Thị trƣờng độc quyền: Nếu thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trƣờng có vô số ngƣời tham gia, mỗi thành viên đều là ngƣời chấp nhận giá thì thị trƣờng độc quyền là thị trƣờng có duy nhất một ngƣời bán hoặc một ngƣời mua, dẫn đến thành viên này có sức mạnh thị trƣờng và là ngƣời đặt giá. - Thị trƣờng cạnh tranh độc quyền: Đây là kiểu thị trƣờng trung gian giữa thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo và thị trƣờng độc quyền, là kiểu thị trƣờng phổ biến nhất với hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong thị trƣờng này doanh nghiệp phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong ngành sản xuất các sản phẩm đƣợc ngƣời tiêu dùng coi là thay thế gần gũi cho nhau.3 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế kế hoạch hoá khái niệm cạnh tranh hầu nhƣ không tồn tại song từ khi nền kinh tế nƣớc ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trƣờng thì cũng là lúc cạnh tranh và qui luật cạnh tranh đƣợc thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày càng đƣợc thể hiện ƣu thế của nó rõ nét hơn: + Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu + Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ƣu + Khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật + Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng + Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng xuất lao động và hiệu quả kinh tế - Đối với doanh nghi p s n xuất kinh doanh: Cạnh tranh là một tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng. Các doanh nghiệp, các 8 nhà sản xuất khi tham gia thị trƣờng buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể lẩn tránh mà phải tìm mọi cách để vƣơn lên và chiếm ƣu thế. Ngày nay, xu thế cạnh tranh về chất lƣợng sản phẩm ngày càng tăng vì thế các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tiến quản lý và phƣơng thức sản xuất kinh doanh. Nhƣ vậy là cạnh tranh đã khuyến khích áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong phạm vi doanh nghiệp để giảm giá thành qua đó giảm giá bán và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo hoạt động có hiệu quả, giành đƣợc ƣu thế trên thị trƣờng. - Đối với n n kinh tế và xã hội: Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội.
Khi có cạnh tranh, các đối thủ cạnh tranh do có sự giành giật thị trƣờng và khách hàng nên luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lƣợng sản phẩm và hạ giá bán sản phẩm.