CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP NGÀNH VIỄN THÔNG 1. Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Dịch vụ, thị trường các doanh nghiệp ngành viễn thông - Dịch vụ: Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [18].TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [24].
Như vậy có thể thấy dịch vụ là một dạng sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc tính khác với các loại sản phẩm, hàng hóa khác, là hoạt động sáng tạo có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. - Các đặc tính của dịch vụ: Tính vô hình Mau hỏng Không chuyển giao sở Dịch vụ hữu Không Không lưu trữ đồng được nhất (Nguồn: [11]) Hình 1. Các đặc tính của dịch vụ 5 + Tính vô hình: dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất nghĩa là dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không ngửi hay không nghe thấy được trước khi tiêu dùng. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ thường cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức và đánh giá chất lượng dịch vụ.
+ Tính không chia cắt được (Không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. Điều này có nghĩa là hành động sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời với nhau, đòi hỏi cả nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng tham gia tại địa điểm của nhà sản xuất, vì vậy không chia cắt được dịch vụ hay nói cách khác dịch vụ có tính không chuyển giao sở hữu. + Tính không ổn định, không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất.
Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Điều này cũng có nghĩa là hầu hết nhân viên của đơn vị cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với người tiêu dùng ở một mức độ nào đó và được khách hàng nhìn nhận như một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó. Chất lượng nhiều dịch vụ được xác định bởi thái độ và hành vi của nhân viên mà không thể đưa ra được những bảo đảm thông thường cũng như không thể có sự ép buộc về pháp lý. Một mục tiêu chính của hầu hết chiến lược marketing dịch vụ là tạo ra những cách thức để tách rời hành động mua sắm với hành động tiêu dùng.
Vì tính chất này nên khó để đánh giá được chất lượng dịch vụ. + Tính không lưu trữ được (Inventory): không thể cất giữ, nhập kho để lưu trữ như hàng hóa được, hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ được ấn định trong ngày. Điều này có nghĩa là nếu không bán được công suất dịch vụ vào ngày đó thì doanh thu tiềm năng có thể thu được từ công suất dịch vụ đó sẽ mất đi và không thể thu lại được.Công suất chỉ trở nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ. + Tính mau hỏng: Mỗi dịch vụ chỉ tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại, dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian và không gian.
6 - Thị trường các doanh nghiệp ngành viễn thông: là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của ngành viễn thông. - Phân loại thị trường các doanh nghiệp ngành viễn thông: + Thị trường khách hàng cá nhân: là những đối tượng khách hàng đứng tên trên hợp đồng ký kết với nhà mạng, không bị ràng buộc bởi một tổ chức, doanh nghiệp nào xét trên phương diện sử dụng dịch vụ. + Thị trường khách hàng doanh nghiệp: là các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Việt Nam đứng tên trên hợp đồng ký kết sử dụng dịch vụ viễn thông với nhà mạng. Dịch vụ khách hàng trong ngành viễn thông 1.
Khái niệm Dịch vụ khách hàng nói chung là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp. Do đó, thực thể dịch vụ khách hàng được phân làm 2 loại: dịch vụ cơ bản (dịch vụ cốt lõi) và dịch vụ giá trị gia tăng (dịch vụ phụ thêm) [24]. Các dịch vụ cơ bản của viễn thông, bao gồm: dịch vụ thoại, dịch vụ truyền số liệu. Dịch vụ thoại: dịch vụ điện cố định, di động; Dịch vụ truyền số liệu: dịch vụ kênh thuê riêng, dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình.
Dịch vụ giá trị gia tăng: những dịch vụ bổ sung, tạo ra những giá trị phụ trội thêm cho khách hàng. Dịch vụ giá trị gia tăng là các dịch vụ làm tăng thêm các giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách khai thác thêm các loại hình dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng [2]. Dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ hiển thị số gọi đến, dịch vụ chuyển cuộc gọi tạm thời, dịch vụ báo thức, dịch vụ điện thoại hội nghị ba bên, dịch vụ nhắn tin.; các dịch vụ gia tăng trên nền truyền số liệu như: dịch vụ truyền âm thanh, hình ảnh, tin nhắn đa phương tiện GPRS. Đặc điểm - Dịch vụ khách hàng viễn thông rất khác với các sản phẩm của ngành sản phẩm công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không 7 phải là hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ.
- Đó là sự tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ khách hàng viễn thông. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Ví dụ: trong đàm thoại điện thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc. Trong viễn thông, kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất.
Từ đặc điểm này rút ra yêu cầu về chất lượng dịch vụ viễn thông phải cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ viễn thông người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ. - Xuất phát từ truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian. Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn.
Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực sản xuất và lực lượng lao động. - Sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học,.), còn trong sản xuất viễn thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian. Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất lợi ích của khách hàng.
- Quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và 8 người nhận thông tin. Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp. Chất lượng dịch vụ và quản lí chất lượng dịch vụ 1. Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ (Quality of Service): là một thuật ngữ quản trị kinh doanh được sử dụng để mô tả thành tích trong phục vụ.
Nó phản ánh khía cạnh của dịch vụ cả khách quan và chủ quan. Chất lượng dịch vụ có thể được liên quan đến tiềm năng dịch vụ (ví dụ, công nhân lao động trình độ), kết quả quá trình dịch vụ (ví dụ, nhanh chóng của dịch vụ) và dịch vụ (khách hàng sự hài lòng). Chất lượng dịch vụ nói chung có 3 đặc điểm cơ bản sau: - Chỉ được đánh giá đầy đủ khi nó được khách hàng tiêu dùng. - Có sự khác nhau theo không gian, thời gian, theo vùng, đối tượng sử dụng, trình độ khoa học công nghệ, nền kinh tế và nhu cầu xã hội.
- Là một yêu cầu khách quan ở mọi trình độ sản xuất. Quản lý chất lượng dịch vụ Quản lý chất lượng dịch vụ là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng của dịch vụ [17]. Nội dung quản lý chất lượng dịch vụ khách hàng trong doanh nghiệp ngành viễn thông 1.