CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm và lý thuyết cơ bản 1. Cạnh tranh Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Theo kinh tế học định nghĩa: Cạnh tranh là sự giành giật thị trường để tiêu thụ hàng hóa giữa các doanh nghiệp. Ở đây, định nghĩa mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành… Luan van 6 Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường. Hầu hết các nước đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với doanh nghiệp là lợi nhuận 1. Năng lực cạnh tranh 1.
Khái niệm Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, công nghệ, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào. Ngoài ra, theo lý thuyết tổ chức công nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không có trợ cấp, đảm bảo đứng vững trước các đối thủ khác hay sản phẩm thay thế. Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển chính bản thân doanh nghiệp. TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế” thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên thị trường mục tiêu xác định. Như vậy, năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trường. Luan van 7 Luan van 8 1.
Phân loại năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh thị trường. Năng lực cạnh tranh nguồn - Vị thế tài chính: Vị thế tài chính của doanh nghiệp có tầm quan trọng tối cao không chỉ đối với phát triển chiến lược công ty và doanh nghiệp mà còn đối với phát triển chiến lược marketing và vị thế cạnh tranh của nó. Khả năng nguồn tài chính mạnh cần được cân nhắc khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và việc phân tích này bao gồm các tham số: lợi nhuận, dòng tiền, tỷ lệ vốn vay, hiệu suất lợi tức cổ phần, các chỉ số sinh lợi, tỷ suất lợi nhuận,. - Năng lực quản lý và lãnh đạo: Năng lực quản lý và lãnh đạo được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp.
Quyết định quản trị tốt phải đạt được một mức quyết định và khả năng định hướng đúng vào các vấn đề chất lượng và khả năng định hướng đúng vào các vấn đề chất lượng và tính sinh lợi cho sản phẩm. Đồng thời, nhà quản trị phải có khả năng thúc đẩy và truyền cảm, giữ các thành viên hành động theo định hướng đúng bất chấp những trở ngại và thay đổi, bằng việc khơi dậy những nhu cầu giá trị và cảm hứng cho thành viên. Năng lực lãnh đạo phải được đánh giá trên cơ sở những thay đổi trong nghiên cứu môi trường bên ngoài kỳ vọng đối với doanh nghiệp trong tương lai. Những thách thức lớn thì tầm quan trọng của sự lãnh đạo hữu hiệu càng lớn.
- Năng lực nguồn nhân lực: Sự cân nhắc về trình độ lực lượng lao động và năng suất công việc, những yêu cầu về kĩ năng, đào tạo, các kế hoạch tuyển dụng ảnh hướng của tổ chức công đoàn, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ nhân sự, điều kiện làm việc và tinh thần của lực lượng lao động kể cả việc đánh giá văn hóa doanh nghiệp. - Năng lực R&D: R&D hữu hiệu cho phép doanh nghiệp có được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế vượt trối trong giới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến và cập nhật liên tục các sản phẩm hiện hữu. Một doanh nghiệp có thể sẽ bị tụt hậu năng lực cạnh tranh trong ngành kinh doanh bởi yếu kém R&D. Luan van 9 - Năng lực sản xuất – kinh doanh: Năng lực sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá gia các tiêu chí quy mô của doanh nghiệp, mức năng suất lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh thị trường Năng lực cạnh tranh thị trường là những năng lực căn bản để vừa sáng tạo những giá trị gia tăng cho khách hàng cao hơn, vừa tạo ra sự khác biệt rõ nét với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. - Tổ chức marketing: tổ chức thực hiện các hoạt động marketing. Chuyển các chiến lược và chương trình marketing thành những hoạt động marketing trên thực tế nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra có hiệu quả cao. - Hệ thống thông tin marketing: giúp doanh nghiệp nhận được các tin tức thị trường có liên quan đến thị trường vĩ mô và môi trường ngành, giúp doanh nghiệp cập nhật thông tin kịp thời và chính xác về nhu cầu và hành vi của khách hàng cũng như hành vi của đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh đặc biệt quan trọng thể hiện doanh nghiệp có nhạy với các sự kiện, xu thế trên thị trường mục tiêu của mình đối với đối thủ cạnh tranh hay không. - Hoạch định chiến lược marketing: Cung cấp cho các đơn vị kinh doanh khả năng triển khai và thực thi các chiến lược có tính đón đầu hữu hiệu không. Đây là tác nhân quan trọng quyết định tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên cơ sở nhận dạng các kẽ hở chiến lược và các nguồn tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Các chương trình marketing hỗn hợp: là quá trình thực hiện các chính sashc giá, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và các hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán của doanh nghiệp.
- Kiểm tra marketing: thực hiện việc kiểm tra, theo dõi nhằm đảm bảo các mục tiêu marketing sẽ được đáp ứng, thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện các vấn đề trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động cho đúng hướng. - Hiệu suất hoạt động marketing: là việc doanh nghiệp thích ứng với các cơ hội và thách thức xuất hiện trên thị trường. Doanh nghiệp sẽ đáp ứng như thế nào đối với nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, doanh nghiệp có khả năng ứng nhạy bén như thế nào Luan van 10 để đối phó với các chiến lược của đối thủ cạnh tranh và đạp ứng những mục tiêu doanh số, thị phần và lợi nhuận mà công ty đề ra. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh ở góc độ vi mô được hiểu là vị thế mà một doanh nghiệp muốn đạt được so với các đối thủ cạnh tranh.
Vị thế này được thể hiện trên thị trường thông qua các yếu tố cạnh tranh như giá sản phẩm (chi phí) hay sự khác biệt hóa, hoặc đồng thời cả hai. Lợi thế cạnh tranh gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu không sở hữu một lợi thế cạnh tranh bền vững thì hiệu suất hoạt động trên mức trung bình thường được coi là một dấu hiệu của sự thành công của doanh nghiệp. Porter, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba lợi thế cạnh tranh bền vững là: - Chi phí thấp: Lợi thế về chi phí là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm/ dịch vụ tương tự với mức giá thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
- Khác biệt hóa: Lợi thế về sự khác biệt hóa là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm/ dịch vụ khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.