Luận văn tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty cổ phần thương mại và đầu tư KLEVE

Chuyên đề nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty thương mại và đầu tư KLEVE, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

90
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2. Phân loại cạnh tranh doanh nghiệp

1.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4.1. Các nhân tố bên trong

1.4.1.1. Trình độ tổ chức và quản lí doanh nghiệp
1.4.1.2. Trình độ khoa học và công nghệ
1.4.1.3. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.4.1.4. Chất lượng nguồn nhân lực

1.4.2. Các nhân tố bên ngoài

1.4.2.1. Xu thế toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp
1.4.2.2. Các nhân tố trong nước

1.5. Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.5.1. Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp

1.5.1.1. Thương hiệu của doanh nghiệp
1.5.1.2. Thị phần của doanh nghiệp

1.5.2. Chi phí sản xuất

1.5.3. Tỷ suất lợi nhuận

1.5.4. Một số kinh nghiệm trong và ngoài nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ K.

2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.2. Quá trình hình thành và phát triển

2.3. Tầm nhìn, sứ mệnh, phương châm kinh doanh và mục tiêu

2.3.1. Tầm nhìn đến năm 2022

2.3.2. Phương châm kinh doanh

2.4. Cơ cấu tổ chức

2.5. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.6. Khách hàng của công ty

2.7. Kế hoạch kinh doanh của công ty từ năm 2018-2020

2.8. Các chiến lược và việc thực hiện

2.8.1. Chiến lược Marketing

2.8.2. Chương trình Marketing

2.9. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2018 – 2020

2.10. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh

2.11. Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp K.

2.11.1. Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.11.1.1. Đối thủ cạnh tranh
2.11.1.2. Khách hàng
2.11.1.3. Nhà cung ứng
2.11.1.4. Yếu tố kinh tế
2.11.1.5. Yếu tố pháp luật – chính trị
2.11.1.6. Yếu tố công nghệ

2.11.2. Thực trạng về năng lực tài chính của công ty

2.11.3. Thực trạng năng lực làm việc của đội ngũ lao động trong công ty

2.11.4. Quy mô của doanh nghiệp

2.11.5. Thị phần của doanh nghiệp

2.11.6. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ

2.11.7. Giá cả sản phẩm và dịch vụ

2.11.8. Thương hiệu và văn hóa doanh nghiệp

2.11.9. Những khó khăn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.11.10. Những điểm yếu còn tồn tại trong công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.11.11. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ K.

3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

3.2. Phương hướng phát triển công ty trong thời gian tới

3.3. Mục tiêu kinh doanh của công ty

3.4. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất của công ty cổ phần thương mại và đầu tư K.

3.5. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

3.6. Hoàn thiện hệ thống và trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp

3.7. Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Marketing của Công ty

3.8. Đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng của sản phẩm

3.9. Hạ giá thành sản phẩm

3.10. Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống kênh phân phối

3.11. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tiếp thị

3.12. Kiến nghị với nhà nước về mặt chính sách, pháp luật

3.12.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật các chính sách kinh tế của nhà nước tạo môi trường kinh doanh ổn định

3.12.2. Đẩy mạnh quá trình cải cách thủ tục hành chính

3.13. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của một công ty trong việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ bao gồm chất lượng sản phẩm mà còn liên quan đến giá cả, dịch vụ khách hàng, và khả năng đổi mới. Năng lực cạnh tranh được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp, năng lực tài chính, và chất lượng nguồn nhân lực. Các công ty cần phải phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài để xác định vị trí của mình trên thị trường. Việc hiểu rõ về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả.

1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố bên trong bao gồm trình độ khoa học và công nghệ, năng lực tài chính, và chất lượng nguồn nhân lực. Trong khi đó, các nhân tố bên ngoài như xu thế toàn cầu hóacác yếu tố kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng. Doanh nghiệp cần phải đánh giá các yếu tố này để có thể đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp. Việc phân tích thị trường thương mạiđối thủ cạnh tranh cũng là một phần không thể thiếu trong quá trình này.

II. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty KLEVE

Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư K.E đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, công ty vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ đối thủ cạnh tranhthị trường thương mại. Việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cho thấy rằng mặc dù có những điểm mạnh như thương hiệuchất lượng sản phẩm, công ty vẫn cần cải thiện một số yếu tố như chi phí sản xuấtquản lý đầu tư. Đánh giá hiệu quả kinh doanh trong những năm qua cho thấy công ty cần có những chiến lược rõ ràng hơn để tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao hiệu suất.

2.1. Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty KLEVE

Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty KLEVE cho thấy rằng công ty đã có những bước tiến trong việc xây dựng thương hiệu và mở rộng thị phần. Tuy nhiên, công ty vẫn còn tồn tại một số điểm yếu như chi phí sản xuất cao và quản lý đầu tư chưa hiệu quả. Việc cải thiện những yếu tố này sẽ giúp công ty nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra lợi thế trong thị trường thương mại. Công ty cần phải tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty KLEVE

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, công ty KLEVE cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, công ty cần tập trung vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng dịch vụsản phẩm. Thứ hai, việc cải thiện hiệu suấtquản lý đầu tư cũng là rất quan trọng. Công ty nên áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí sản xuất. Cuối cùng, công ty cần xây dựng một chiến lược marketing hiệu quả để tăng cường thương hiệu và mở rộng thị trường.

3.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh. Công ty KLEVE cần đầu tư vào các chương trình đào tạo để nâng cao kỹ năng cho nhân viên. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao dịch vụ khách hàng. Đội ngũ nhân viên có trình độ cao sẽ giúp công ty thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường thương mại và tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm về canh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao, thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau: Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hang hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung- cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.

Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980). Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển há giá trị hang hóa thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn bó với quan hệ cung cầu của hàng hóa. Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung. Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh, song có thể hiểu một cách chung nhất về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.

18 Luan van Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong từng điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển mà có những quan niệm khác nhau. Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện nay và làm nẩy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Theo Michael Porter: Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại( hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế.

Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp được coi là có Năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dân tiêu dung, 19 Luan van quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác. Vai trò của cạnh tranh Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình.

Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Khi sản xuất kinh doanh một hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được, được xác định như sau: Pr = P.Q Trong đó: + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp + P: Giá bán hàng hoá. + Q: Lượng hàng hoá bán được + C: Chi phí một đơn vị hàng hoá. Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp.

và tốn ít chi phí nhất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được sự có mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo của chúng. Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tư nhằm 20 Luan van nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng được đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn. Đó chính là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội. Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình. Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng, được quan tâm nhiều hơn. Đây là những lợi ích làm người tiêu dùng có được từ cạnh tranh.

Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nước. Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao. Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ. Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để đạt được điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước mình để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước sẽ không ngừng được cải thiện.

Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Cạnh tranh tạo ra môi trường tốt cho 21 Luan van doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khối liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình. Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Luận văn tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty cổ phần thương mại và đầu tư KLEVE" của tác giả Tường Thị Hương, dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Công Hòa, được thực hiện tại Học viện Chính sách và Phát triển vào năm 2021. Bài viết tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty KLEVE, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Qua đó, bài luận không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho doanh nghiệp trong việc cải thiện vị thế trên thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản trị kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, nơi phân tích hiệu quả lao động trong ngành ngân hàng, và Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên trong lĩnh vực ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực khác nhau.