CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Tổng quan lý luận về năng lực động và năng lực cạnh tranh 1.1 Lý thuyết về nguồn lực và đặc điểm của nguồn lực tạo lợi thế cho doanh nghiệp 1.1 Lý thuyết về nguồn lực Nguồn lực của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều dạng khác nhau, chúng được chia ra thành hai nhóm: Nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình (Grant, 2002; Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Lý thuyết của nguồn lực của doanh nghiệp tập trung phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào các yếu tố bên trong, đó là nguồn lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Wernerfelt, 1984; Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Lý thuyết nguồn lực cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Không phải tất cả những nguồn lực của doanh nghiệp đều có thể duy trì những lợi thế cạnh tranh.2 Đặc điểm của nguồn lực tạo lợi thế cho doanh nghiệp Nguồn lực có giá trị: có nghĩa rằng nó khai thác những cơ hội và/hoặc vô hiệu hóa được những mối đe dọa trong môi trường hoạt động của doanh nghiệp để mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nguồn lực có giá trị sẽ mang đến lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nguồn lực đó phải cho phép doanh nghiệp thực hiện được các chiến lược kinh doanh cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động của công ty (efficiency and effectiveness) (Barney, 1991). Từ đó giúp cho doanh nghiệp tận dụng được cơ hội và trung lập các mối đe dọa hiện hữu trong môi trường kinh doanh của doanh ngiệp. SVTH: Trần Thị Kim Oanh 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Thị Thúy Đạt Nguồn lực hiếm: nó cần phải hiếm trong sự cạnh tranh tiềm tàng và hiện tại của doanh nghiệp và chỉ có ở doanh nghiệp này, được doanh nghiệp này sử dụng để thực thi các chiến lược tạo ra giá trị mà không cùng lúc được thực thi bởi nhiều doanh nghiệp khác.
Một nguồn lực có giá trị mà có mặt ở các doanh nghiệp khác thì không được xem là nguồn lực hiếm. Nguồn lực hiếm là nguồn lực mà chỉ có ở doanh nghiệp này, được doanh nghiệp sử dụng trong chiến lược tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, đem lại lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Barney, 1991) Nguồn lực khó bắt chước: theo Lippman & Rumelt (1982) và Barney (1986a, 1986b), nguồn lực khó bị bắt chước khi có một trong ba hoặc cả ba nhân tố sau (a) doanh nghiệp có được nguồn lực đó nhờ vào một số điều kiện xảy ra ở một thời điểm đặc biệt nào đó, (b) mối liên hệ giữa những nguồn lực đó với năng lực canh tranh của công ty một cách ngẫu nhiên, (c) nguồn lực đó có liên quan đến một hiện tượng xã hội, vượt quá khả năng kiểm soát và ảnh hưởng của doanh nghiệp. Nguồn lực không thể thay thế: yêu cầu quan trọng đối với nguồn lực của doanh nghiệp để nguồn lực đó tạo ra lợi thế cạnh tranh đó là những nguồn lực không thể bị thay thế bằng những nguồn lực có giá trị thay thế tương đương về mặt chiến lược (Barney, 1991). Khả năng thay thế diễn ra dưới hai hình thức, trước tiên nguồn lực đó không thể bắt chước được nhưng có thể được thay thế bằng một nguồn lực tương tự khác mà nó cho phép doanh nghiệp sử dụng nguồn lực tương tự này vẫn thực hiện được các chiến lược của doanh nghiệp (Barney & Tyler, 1990).
Hình thức thứ hai là nhiều nguồn lực khác nhau có thể là thay thế mang tính chiến lược. Đối với doanh nghiệp này, nguồn lực A (ví dụ là lực lượng lãnh đạo tài năng) (Zucker, 1977) là nguồn lực đặc trưng mà doanh nghiệp khác không có được, nhưng doanh nghiệp B vẫn có thế mạnh đối với nguồn lực B (ví dụ đó là khả năng lên kế hoạch rất tốt) của mình và từ đó nguồn lực B của doanh nghiệp B vẫn có thể cạnh tranh với nguồn lực A của doanh nghiệp A (Pearce, Freeman & Robinson, 1987). SVTH: Trần Thị Kim Oanh 10 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Thị Thúy Đạt Giá trị Lợi thế cạnh tranh Nguồn lực doanh nghiệp Hiếm bền vững của Khó bắt chước doanh nghiệp Không thể thay thế Sơ đồ 2: Nguồn lực đạt VRIN và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Nguồn: Barney, J.2 Lý luận chung về thuyết năng lực động 1.1Khái niệm về năng lực động Năng lực động (Dynamic Capability) là một loại năng lực đặc biệt, thể hiện “khả năng tích hợp, xây dựng và tái tổ chức các năng lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp trong khi phải đối diện với những thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh” (Tee, Pisano và Shuen, 1997).
Khái niệm năng lực động phản ánh khả năng doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh dưới dạng mới và sáng tạo hơn trong điều kiện lịch sử và vị thế thị trường hiện tại (Leonard-Barton, 1992) Nắm giữ khả năng động cho phép doanh nghiệp liên tục tích hợp, tái cấu trúc, làm mới và tái tạo các nguồn lực và quan trọng là nâng cấp, tái tạo lại năng lực cốt lõi để đáp ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh, duy trì lợi thế cạnh tranh. Eisenhardt và Martin (2000) định nghĩa khái niệm năng lực động là “các quy trình của doanh nghiệp có ử dụng các nguồn lực – đặc biệt các quy trình tích hợp, tái cơ cấu, xây dựng và phân bổ các nguồn lực – nhằm bắt kịp những sự kiến tạo nên những biến động thị trường” và “…những thói quen doanh nghiệp và thói quaen chiến lược cho phép doanh nghiệp đạt được các nguồn lực mới và tái cơ cấu khi thị trường xuất hiệ, cạnh tranh, phân chia, phát triển và biến mất” Bản chất của năng lực động gắn với tên gị của nó: (1) Khả năng (capabilities) gắn liền với vai trò chính của quản trị chiến lược trong thích nghi, tích hợp, tái tổ chức các nguồn lực, năng lực, kĩ năng trong doanh nghiệp một cách phù hợp nhất với yêu cầu của thị trường biến động. (2) Động (dynamic) khả năng đổi mới các năng lực cho phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh SVTH: Trần Thị Kim Oanh 11 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Thị Thúy Đạt Yếu điểm của các mô hình kinh tế học cổ điển là bỏ qua quá trình động của thị trường.
Lý thuyết năng lực động ra đời đã khắc phục khuyết điểm này. Lý thuyết năng lực động ngoài việc tập trung nghiên cứu khả năng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp còn nhấn mạnh vào sự thay đổi của môi trường (Easterby-Smith và các cộng sự, 2009). Vì vậy, cho phép phân tích doanh nghiệp trong điều kện môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng. Năng lực động là một loại năng lực và là một nguồn lực đặc biệt, do đó cũng là nền tảng hình thành lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp theo mô hình VRIN.
Trong môi trường biến động, nguồn lực đủ bốn yếu tố trong mô hình VRIN khong thực sự bền vững qua thời gian, vì vậy lợi thế cạnh tranh từ nguồn lực này sẽ không bền vững. Như vậy, khả năng chỉ là điều kiện cần đầu tiên, có thể cho phép doanh nghiệp khi sử dụng nguồn lực này, đạt được mục đích đề ra như cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh. Năng lực cốt lõi là điều kiện cần thứ hai cho phép xác định phạm vi và mức độ quan trọng của nguồn lực và khả năng đối với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định. Tuy nhiên năng lực cốt lõi vẫn có thể bị lỗi thời, không thích hợp khi thị trường thay đổi, do sự phát triển của khoa học công nghệ hay nhu cầu thị trường thay đổi.
Vì vậy, năng lực động là điều kiện cần thứ ba cho phép doanh nghiệp phản ứng và quản trị được thay đổi, nhờ khả năng cập nhật, tái cấu trúc và tái tạo mới ccs nguồn lực, năng lực và năng lực cốt lõi. Như vậy, năng lực động chính là khả năng quyết định mang lại hiệu quả trong dài hạn cho doanh nghiệp (Teece, Pisano và Shuen, 1997). Bởi vì khả năng thay dổi nhanh và tỉnh táo trước biến động thị trường rất khó bị bắt chước hoặc phải trả một giá rất đắt để có được, nên đây chính là nguồn lực của lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp (Barney và các cộng sự, 2001) 1.2 Lịch sử hình thành lý thuyết năng lực động SVTH: Trần Thị Kim Oanh 12 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Thị Thúy Đạt Lý thuyết năng lực động doanh nghiệp Xem xét xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên phân tích các nguồn lực nội bộ mang lại Lý thuyết nguồn lực những lợi thế cho doanh nghiệp doanh nghiệp (chủ yếu các nguồn lực vô hình thỏa mãn tiêu Lý thuyết cạnh tranh chí: Đem lại lợi ích, truyền thống (Kinh tế Xem xét xây dựng hiếm, khó bắt chước, học tổ chức, Kinh tế chiến lược kinh không thể thay thế).
học Chamberlain, doanh từ việc phân Phân tích xem xét Kinh tế học tích các yếu tố nội các yếu tố trong điều Schumpeter) bộ doanh nghiệp kiện thị trường động (các nguồn lực hữu (biến đổi) hình và vô hình) Phân tích ở điều kiện thị trường cân Xem xét xây dựng bằng chiến lược từ việc phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài: ví dụ mô hình 5 áp lực cạnh tranh. Phân tích ở điều kiện thị trường cân bằng Sơ đồ 3: Lịch sử hình thành lý thuyết năng lực động (Nguồn: Bùi Quang Tuyến, tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh) SVTH: Trần Thị Kim Oanh 13 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Thị Thúy Đạt 1.3 Lý luận chung về bất động sản 1.1Khái niệm về bất động sản Bất động sản là những tài sản gắn liền với cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội, là một phần quan trọng của mỗi quốc gia. Đó là một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động của con người.
Từ thời La Mã cổ đại, người ta đã phân loại thành “bất động sản” và “động sản”, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình, mùa màng, cây trồng v.v và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai.