Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được xã hội loài người nhắc đến từ rất lâu, song trong những năm gần đây chúng ta thấy thuật ngữ này được nhắc đến nhiều hơn, đặc biệt là ở Việt Nam.
Bởi trong nền kinh tế mở như hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh nghiệp. nhưng trong thực tế “cạnh tranh là gì?” thì vẫn đang là một khái niệm chưa được thống nhất, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra các khái niệm về cạnh tranh khác nhau dưới nhiều góc độ khác nhau. Porter (1990), cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, cạnh tranh là khả năng các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Trong khi đó, Ủy ban cạnh tranh Công nghiệp của Tổng thống Mỹ cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trong những điều kiện thị trường tự do và công bang xã hội. Trong khái niệm cạnh tranh này người ta nhấn mạnh đến vai trò của các điều kiện cạnh tranh là tự do và công bằng xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Các nhà kinh tế của trường phái cổ điển lại quan niệm cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá cả, chính vì vậy lý thuyết giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh.
Họ cho rằng cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình.Marx nghiên cứu về cạnh tranh Tư bản chủ nghĩa, K.Marx cho rằng cạnh tranh Tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi siêu ngạch. Với cách tiếp cận này, mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận siêu ngạch của nhà tư bản thông qua việc đấu tranh để tận dụng và khai thác các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Trong tác phẩm “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập”, tác giả Đặng Đức Thành (2010) cho rằng cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong kinh tế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất.
Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Từ những quan điểm trên có thể rút ra quan điểm chung về cạnh tranh ở phạm vi doanh nghiệp như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự thuận lợi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Cạnh tranh diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều góc độ khác nhau. Trên góc độ thị trường thì có các hình thức cạnh tranh chủ yếu như cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền. Còn theo chủ thể tham gia thị trường thì lại bao gồm cạnh tranh giữa người bán và người mua, cạnh tranh giữa những người bán với nhau, cạnh tranh giữa những người mua với nhau. Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh thì có cạnh tranh giữa các sản phẩm, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cùng ngành nghề, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa các quốc gia.
Lợi thế cạnh tranh Doanh nghiệp luôn tồn tại trong một môi trường cạnh tranh và chỉ có những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mới tồn tại được trong môi trường này. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo ra cho mình những lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh là thế mạnh của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác mà nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khách hàng khi lựa chọn mua một sản phẩm nào đó họ luôn so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được.
Lợi thế cạnh tranh hướng tới điều này. Một doanh nghiệp gọi là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong khoảng thời gian dài. Các nhân tố tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách hàng.
Lợi thế cạnh tranh được coi là bên ngoài khi chúng dựa trên chiến lược phân biệt sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi phí sử dụng, hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng. Lợi thế này tạo cho doanh nghiệp "Quyền lực thị trường mạnh". Lợi thế cạnh tranh bên trong dựa trên tính ưu việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị cho người sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với người cạnh tranh chủ yếu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Ngày nay, quá trình cạnh tranh đang có khuynh hướng chuyển mục đích của cạnh tranh từ phía cạnh tranh người tiêu dùng sang cạnh tranh đối thủ. Cốt lõi của cạnh tranh hiện nay được quan niệm là tạo ưu thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Thích ứng với cạnh tranh đòi hỏi phải có sự sáng tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp có thể sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh theo nhiều cách khác nhau: Hoặc là chọn tuyến thị trường khác với đối thủ cạnh tranh, hoặc là đầu tư giảm giá thành để cạnh tranh tranh trong cùng một tuyến thị trường, hoặc kiểm soát hệ thống phân phối.
Đằng sau các cách này là hai thái độ cạnh tranh: Đối đầu trực tiếp với đối phương hoặc phát triển con đường tránh cạnh tranh 1. Nâng cao năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế thị trường ngày nay. Hiện nay, tồn tại rất nhiều định nghĩa về năng lực cạnh tranh đứng trên những góc độ tiếp cận khác nhau.
Một số quan điểm như sau: Theo Michale E. Porter (1996), năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận. Vậy với quan điểm này, để tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Theo quan điểm này thì năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự khi cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Lê Đăng Doanh (1998, tr.28) nêu rõ “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước” Một số quan điểm khác cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với việc thu lợi nhuận nhất định.
Tất cả các nghiên cứu mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều cho thấy năng lực cạnh tranh đều liên quan đến hai khía cạnh đó là chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận mang lại. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được hiểu là khả năng tồn tại, duy trì hoặc gia tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần trên thị trường của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và phát triển bền vững. Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Tầm quan trọng của nâng cao năng lực cạnh tranh Nâng cao năng lực cạnh tranh có tầm quan trọng rất lớn đối với doanh nghiệp.