MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Logistics là một mắt xích quan trọng trong quá trình phân phối hàng hoá từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng. Hoạt động logistics ngày nay không chỉ gắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải, mà còn lên kế hoạch, sắp xếp dòng chảy nguyên vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, sau đó hàng hóa được luân chuyển từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, tạo nên sự liên thông trong toàn xã hội theo những phương án tối ưu hóa, giảm chi phí vận chuyển và lưu kho Hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30% Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Lĩnh vực dịch vụ logistics ở Việt Nam đã và đang bước vào một thời kỳ mới, có rất nhiều cơ hội để phát triển Tuy nhiên, bài toán năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics vẫn còn quá nhiều ẩn số Năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics của Việt Nam còn khá thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới thể hiện ở phần lớn thị trường logistics Việt Nam được nắm giữ bởi các công ty vốn sở hữu nước ngoài không chỉ tiềm lực mạnh về tài chính mà còn có sự vượt trội về mặt công nghệ. Thị trường Việt Nam hầu như chưa có một công ty nội nào có thể đáp ứng được dịch vụ trọn gói cho khách hàng Trong khi đó, theo thống kê của Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) năm 2015, các công ty nước ngoài đang tham gia vào thị trường logistics Việt Nam chiếm khoảng 80% thị phần, chiếm lĩnh những hoạt động có giá trị gia tăng cao như vận tải hàng hải, kho bãi,… Chỉ số năng lực hoạt động logistics Việt Nam (LPI) đứng thứ 64 trên thế giới (2016), thứ 5 trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), logistics có tốc độ phát triển trung bình 20%/năm, tuy nhiên, đây chủ yếu là hoạt động từ các doanh nghiệp ngoại tham gia thị trường logistics khi thị trường đã mở cửa.
Hoạt 2 động logistics của các doanh nghiệp nội đang gặp nhiều khó khăn do các bất cập từ hệ thống pháp lý; hạ tầng cơ sở thiếu và yếu kém; các nhà cung ứng dịch vụ có quy mô nhỏ, phân đoạn rời rạc, không tập trung; công nghệ, cơ sở vật chất yếu kém. Trong 10 năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực và chủ động hội nhập sâu và rộng hơn với khu vực và thế giới. Cụ thể, năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tiếp đó, Việt Nam đã tham gia đàm phán, ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như FTA Việt Nam – Nhật Bản, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – EU,… Đặc biệt, sự hình thành của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 và việc Việt Nam tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành logistics nói riêng.
Hội nhập quốc tế dẫn tới gia tăng hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó khiến logistics trở thành ngành dịch vụ quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế. Hội nhập quốc tế gáp phần đẩy mạng cải thiện bộ máy nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành logistics phát triển. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức với ngành logistics Việt Nam, đặc biệt là vấn đề năng lực cạnh tranh của ngành. Nâng cao hiệu quả hoạt động logistics sẽ tạo điều kiện để các nhà đầu tư quốc tế và nội địa tìm nguồn hàng với tổng chi phí thấp hơn so với các quốc gia khác Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics cũng phù hợp với định hướng dài hạn về thúc đẩy tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Việt Nam.
Các hoạt động xuất khẩu bắt buộc phải có sự tương tác với nhiều yếu tố của hệ thống logistics quốc gia, từ cung cấp hạ tầng cơ sở cơ bản, cơ sở vật chất, trang thiết bị, cung ứng dịch vụ, môi trường thể chế, luật định, đồng thời cũng phụ thuộc vào những yếu tố này để tồn tại. Cùng với xu hướng phát triển trên, việc nghiên cứu những vấn đề về năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics cũng như hội nhập ngành dịch vụ logistics Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng. Những nghiên cứu này sẽ là cơ sở để có những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, luận án “Nâng 3 cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” đáp ứng tính lý luận và thực tiễn cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh logistics cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia.
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1 Khái quát tình hình nghiên cứu 2.1 Tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh hiện nay chủ yếu hướng vào năng lực cạnh tranh của quốc gia hoặc của doanh nghiệp hay sản phẩm chứ chưa chú trọng đến phạm vi ngành. Ở Việt Nam, năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ với những nội dung cập nhật, đầy đủ, toàn diện của nó vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ, kể cả về cả hệ thống lý luận và thực tiễn. Công trình nghiên cứu khoa học quy mô đầu tiên liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc” do PGS TS Nguyễn Hữu Khải thực hiện vào năm 2005 Bài viết đã đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ Việt Nam trong tương quan so sánh với các nước ASEAN và Trung Quốc, những thách thức và cơ hội đối với các ngành dịch vụ của Việt Nam khi hội nhập và thực hiện Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc. Nghiên cứu còn tập trung làm rõ các phân ngành dịch vụ mà Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao và những phân ngành dịch vụ kém khả năng cạnh tranh so với ASEAN, Trung Quốc và kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh của các ngành dịch vụ của Việt Nam.
Năm 2007, tác giả Nguyễn Hữu Khải và Vũ Thị Hiền đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo “Các ngành dịch vụ Việt Nam: Năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế” nhằm mục đích hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ, tìm hiểu những cam kết song phương và đa phương về dịch vụ của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đưa ra một số nhận định về năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ 4 của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đó trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu khác liên quan đến năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia là “Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam năm 2009-2010” do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á (ACI) của Singapore phối hợp thực hiện, với sự tham gia của chuyên gia về năng lực cạnh tranh hàng đầu là Micheal Porter. Bản báo cáo đề cập toàn diện về hiện trạng, năng lực nền kinh tế Việt Nam hiện nay, phân tích khả năng cạnh tranh kinh tế vĩ mô cũng như vi mô để từ đó khuyến nghị những chính sách cần thiết về năng lực cạnh tranh cho Việt Nam.
Đặc biệt, báo cáo xác định những ưu tiên và phương pháp cụ thể về năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực được coi là mũi nhọn chủ lực phát triển của Việt Nam như đầu tư trực tiếp nước ngoài, xuất khẩu,… Luận án tiến sĩ kinh tế “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ hướng về xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do tác giả Vũ Thị Hiền (2012) phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ hướng về xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Trong nghiên cứu, tác giả trình bày cơ sở khoa học của nâng cao năng lực cạnh tranh các ngành dịch vụ hướng về xuất khẩu, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ trong xuất khẩu và phân tích năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ hướng về xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra tình hình xuất khẩu dịch vụ Việt Nam trong những năm qua và các yếu tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh một số ngành dịch vụ xuất khẩu của nước ta như dịch vụ vận tải biển, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ viễn thông Từ đó, tác giả nêu ra những điểm mạnh, điểm yếu về năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ này và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ hướng về xuất khẩu của Việt Nam. Một nghiên cứu khác cũng liên quan đến vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Huyền Trâm (2013) với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”, tác giả nêu ra ba vấn đề lớn là cơ sở lý thuyết của năng lực cạnh tranh, thực trạng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay 5 trên các phương diện như số lượng, quy mô, vốn, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; tình hình thực hiện các chỉ tiêu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Từ những phân tích trên, tác giả cũng đưa ra những giải pháp và kiến nghị để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghệp trong thời kì hội nhập.