đặt vấn đề trên giác độ khái niệm năng lực cạnh tranh của TĐKT không khác mấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quy mô lớn, luận án cho rằng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của TĐKT cũng có thể dựa vào tiêu chí năng lực của doanh nghiệp để xem xét. Cụ thể, tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của TĐKT gồm các yếu tố sau đây: Quy mô và phương thức sử dụng vốn của TĐKT Quy mô vốn càng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho TĐKT triển khai chiến lược kinh doanh, chiến lược cạnh tranh. Tuy nhiên, quy mô vốn lớn nhưng phương thức quản lý, sử dụng vốn không hợp lý, đầu tư không hiệu quả không những không bảo toàn được vốn mà còn làm cho việc triển khai chiến lược cạnh tranh có thể dẫn đến thất bại. Quy mô vốn và cách thức sử dụng vốn của TĐKT phụ thuộc vào chiến lược hoạt động của mỗi thành viên công ty con và sự quản lý, điều hành chi phối của công ty mẹ.
Hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu Hiểu biết đặc tính của từng loại thị trường, kịp thời nắm bắt được những thông tin về thị trường như diễn biến của tình hình giá cả, cung, cầu sản phẩm hàng hóa, sở thích, thị hiếu của khách hàng và hàng loạt các vấn đề khác đã, đang và sẽ biến động trên thị trường là một đòi hỏi hết sức cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT. Song, để hiểu rõ được thị trường hoàn toàn không phải là một công việc đơn giản, đòi hỏi phải có quá trình 14 nghiên cứu một cách công phu và liên tục. Trên cơ sở hiểu rõ được thị trường, căn cứ vào lợi thế của mình để lựa chọn thị trường mục tiêu sao cho phát huy lợi thế vốn có của mình là cả một vấn đề. Hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có sự đầu tư tiền bạc, công sức, trí tuệ.
Phải coi việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu là đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả lâu dài. Chiến lược cạnh tranh của TĐKT Có thể coi chiến lược cạnh tranh của các TĐKT cũng giống như chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp có quy mô lớn.Porter - người được coi là cha đẻ của lý thuyết Chiến lược cạnh tranh cho rằng: Chiến lược cạnh tranh của TĐKT là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành - đấu trường chính của các cuộc cạnh tranh. Chiến lược cạnh tranh nhằm mục đích tạo lập vị thế thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành. Ông cũng cho rằng: “Có hai vấn đề trọng tâm làm nền tảng cho việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ nhất, mức độ hấp dẫn của ngành để có thể mang lại lợi nhuận lâu dài và các yếu tố quyết định điều này. Không phải mọi ngành nghề đều đem lại cơ hội như nhau về lợi nhuận. Và những thuận lợi vốn có của ngành chính là thành phần chủ chốt để xác định thuận lợi của doanh nghiệp, của TĐKT. Vấn đề trọng tâm thứ hai trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, của TĐKT là những yếu tố quyết định về vị thế cạnh tranh tương đối trong ngành”.
(Lợi thế cạnh tranh-M. Porter, tr 31 NXB TRẺ-DTBOOKS năm 2008) Như vậy, theo M. Porter thì chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp của TĐKT 15 phụ thuộc độ hấp dẫn của ngành và những yếu tố quyết định vị thế của ngành mà doanh nghiệp, TĐKT hoạt động trong ngành đó. Để xác định chiến lược cạnh tranh một cách thích hợp không thể không nghiên cứu, xem xét đến tính hấp dẫn của ngành và những yếu tố quyết định đến vị thế cạnh tranh của ngành.
Mục đích cuối cùng của chiến lược cạnh tranh là để đương đầu và thay đổi quy luật cạnh tranh theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của TĐKT.Porter quy luật cạnh tranh thể hiện qua 5 áp lực: sự xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới; nguy cơ từ sản phẩm, dịch vụ thay thế; áp lực từ khách hàng; áp lực từ nhà cung cấp và áp lực từ đối thủ cạnh tranh hiện tại. Có được chiến lược cạnh tranh tốt là tiền đề quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hay nói cách khác chiến lược cạnh tranh là yếu tố tạo ra năng lực canh tranh của doanh nghiệp của TĐKT. Chiến lược phân phối sản phẩm là yếu tố quan trọng tạo ra thị phần rộng lớn và thu hút khách hàng của doanh nghiệp, của TĐKT. Thực chất của chiến lược phân phối sản phẩm là việc nghiên cứu, thiết lập lựa chọn kênh phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.
Điều quan trọng để có một chiến lược phân phối mang tính cạnh tranh đòi hỏi: Sản phẩm của doanh nghiệp, của TĐKT phải có thương hiệu để đứng vững trên thị trường một cách độc lập. Doanh nghiệp, TĐKT phải có đủ năng lực tổ chức hoạt động trên thị trường. Khả năng tài chính của doanh nghiệp tương đối dồi dào. Có quy trình chiến lược tiếp thị để xây dựng, lựa chọn, điều hành hoạt động của đại lý hoặc hệ thống các kênh phân phối.
16 Năng lực quản lý, điều hành: Năng lực quản lý, điều hành là một tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ quản lý doanh nghiệp, TĐKT. Nếu năng lực, quản lý điều hành kém thì chi phí quản lý trong giá thành sản phẩm cao và đương nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống, chi phí quản lý cao chứng tỏ tổ chức bộ máy cồng kềnh. Chi phí quản lý là một trong những thước đo năng lực quản lý của doanh nghiệp của TĐKT. Để giảm chi phí quản lý đều quan trọng là sắp xếp, tổ chức lại bộ máy một cách hợp lý, áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến, có chính sách cán bộ hợp lý thu hút được nhiều cán bộ quản lý giỏi.
Nói tóm lại là phải tiến hành công cuộc cải cách hành chính ngay trong nội bộ của doanh nghiệp, của các TĐKT. Chi phí nghiên cứu, phát triển (R&D) Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chi phí quan trọng trong nền kinh tế hiện đại, bởi lẽ các doanh nghiệp, các TĐKT muốn tồn tại trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, có sức cạnh tranh, thắng được đối thủ cạnh tranh không có con đường nào khác là phải tự đổi mới mình. Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, phát triển là cách thức tốt nhất để tự đổi mới mình. Vì vậy, trong hầu hết các doanh nghiệp, các TĐKT trên thế giới ngày nay, chi phí nghiên cứu, phát triển chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp nhằm đầu tư nghiên cứu, áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm hoặc tạo ra sản phẩm mới độc đáo, hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng - một tiêu thức quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của các TĐKT.
Trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ là một trong những thước đo quan trọng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của các TĐKT, là chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, của các TĐKT. Trình độ công nghệ quyết định hàm lượng chất xám trong cơ cấu giá thành sản phẩm, là cơ sở để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Tuy 17 nhiên, đầu tư để nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp của các TĐKT là một khoản đầu tư lớn, cũng chứa đựng nhiều rủi ro, nhưng đó là khoản đầu tư tạo ra hiệu quả trong tương lai và hết sức cần thiết nếu doanh nghiệp, TĐKT muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, muốn chiến thắng được đối thủ cạnh tranh. Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được coi là tiêu chí xem xét đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi nói đến nguồn nhân lực là tiêu chí xem xét năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta thường nghiêng về khía cạnh chất lượng của nguồn nhân lực. Một doanh nghiệp có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra được năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao vị thế của mình đối với đối thủ cạnh tranh. Tóm lại, có nhiều tiêu chí khi xem xét đến năng lực cạnh tranh của TĐKT. Tám tiêu chí mà bản luận án đề cập trên đây là một cách tiếp cận.
Năng lực cạnh tranh của một TĐKT không phải là một yếu tố bất biến mà nó luôn chịu sự chi phối bởi nhiều nhân tố.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của TĐKT Thứ nhất, các nhân tố bên ngoài Các nhân tố bên ngoài chi phối đến năng lực cạnh của các TĐKT có thể kể đến là: Xu hướng toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới Ngày nay toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Mở cửa, hội nhập vừa đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của TĐKT: Cơ hội để các TĐKT nâng cao năng lực cạnh tranh của mình có thể là: 18 - Mở rộng liên doanh, liên kết với nước ngoài, tạo điều kiện thu hút nguồn vốn, học hỏi kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ để từ đó mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ, làm ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. - Xâm nhập thị trường tiềm năng, có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường, để gia tăng năng lực sản xuất của TĐKT. - Mở rộng đầu tư ra ngoài biên giới, tiết kiệm chi phí do thụ hưởng về chủ trương giảm thuế quan của các nước.
Tuy nhiên, mở cửa, hội nhập cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của TĐKT. Thách thức lớn nhất có thể là sự gia tăng mức độ cạnh tranh không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay cả trên sân nhà. Tất nhiên, cạnh tranh là yếu tố tích cực thúc đẩy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT.