Lời mở Đầu Cùng với sự phát triển của nền kính tế trong tiến trình đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt nam cũng từng bước được hoàn thiện và phát triển. Từ hệ thống ngân hàng một cấp, với sự ra đời của hai Pháp lệnh Ngân hàng ( Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước; Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ), hệ thống ngân hàng Việt nam bước sang một giai đoạn mới, hoạt động theo mô hình của hệ thống ngân hàng hai cấp với sự phân định rõ ràng chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và chức năng kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Sau gần 8 năm hoạt động dưới sự điều chỉnh của hai Pháp lệnh ngân hàng, hệ thống ngân hàng đã đạt được những thành tựu đáng kể, đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi. Ngân hàng Nhà nước với vai trò, vị trí mới đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ ổn định tiền tệ, kiểm chế lạm phát và góp phần tăng trưởng kinh tế, từng bước đưa hệ thống Ngân hàng Việt nam hội nhập với khu vực và thế giới.
Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự đổi mới của Ngân hàng Nhà nước là vai trò điều hành ở tầm vĩ mô của Nhà nước thông qua việc ban hành kịp thời các văn bản chế độ, tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Ngay sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời và có hiệu lực, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh được ban hành, tạo điều kiện để Pháp lệnh nhanh chóng đi vào cuộc sống. Các quy định về quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước oũng được cải tiến và hoàn thiện từng bước. Cơ chế quản lý tài chính theo nguyên tắc lấy thu bù chỉ phù hợp với đặc thù của Ngân hàng Nhà nước là một cơ quan quản lý Nhà nước có các hoạt động sinh lời trên cơ sỏ tuân thủ các quy định trong Pháp lệnh ngân hàng Nhà nước và các quy định của pháp luật hiện hành.
Cơ chế này, về cơ bản, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, tăng cường tích luỹ cho Ngân sách nhà nước, góp phần tích vào việc đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính - tên tệ. - Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động về tài chính, tiền tệ, tín dụng, ngân hàng ngày càng trở nên sôi động. Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước cùng với cơ chế quản lý tài chính cũ đã bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với hệ thống ngân hàng hiện đại: Sau hai năm chuẩn bị, ngày 12/12/1997 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam thay thế Pháp lệnh ngân hàng Nhà nước, là văn bản pháp lý cao nhất từ trước đến nay điều chỉnh hoạt động Ngân hàng Nhà nước. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, từ tháng 10/1998 khi Luật Ngân hàng bắt đầu có hiệu lực thí hành, phải có một hệ thống văn bản pháp quy đồng bộ hướng dẫn thực hiện, Bộ Tài chính với chức năng quản lý Nhà nước về mặt tài chính cần có những chuẩn bị thích hợp để đưa ra một cơ chế quản lý tài chính phù hợp với địa vị pháp lý, chức năng, vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn mới.
Vì lẽ đó, Ban chủ nhiệm Đề. tài trong gần một năm nay đã tập trung nghiên cứu hoàn thiện Đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt nam”. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của hệ thống ngân hàng, những yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý tài chính giai đoạn mới và kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới nhằm đề xuất ý kiến với Các nhà quản lý một cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân ˆ hàng Nhà nước Việt nam trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được và phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước. Đề tài gồm 3 chương: Chương l : Cơ sd lý luận xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng TW và kinh nghiệm của một số nước.
Chương II : Thực trạng quản lý tài chính của Nhà nước đối với Ngân hàng Nhà nước hiện nay. ˆ Chương ll| : Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng nhà nước việt nam trong giai đoạn tới. Đề tài được hoàn thành với sự quan tâm, giúp đỡ của Lãnh đạo Vụ Tài chính Ngân hàng, Viện nghiên cứu Tài chính ( Bộ Tài chính ) và các chuyên gia về tài chính tiền tệ thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Ban chủ nhiệm Đề tài khoa học xin chân thành câm ơn các nhà khoa học, các đơn vị và cá nhân đã tận tỉnh giúp đỗ Ban chủ nhiệm hoàn thiện Đề tài này.
Hà nội, tháng 9 năm 1998 Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Quang Dũng Phó Vụ trưởng Vụ tài chính các Ngân hàng và Tổ chức tài chính - Bộ Tài chính CHUONG I Cơ sở lý luận xây dựng cơ chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Trung : _ ương và kinh nghiệm của một số nước -J MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRƯNG ƯƠNG 1/ Ngân hàng Trung ương. Nhà Kinh tế học người Mỹ Samuelson đã từng có một câu nói nổi người tiếng: “Ngân hàng trung ương là một trong ba phát minh lớn của loài điệu vai trò của bên cạnh lửa và bánh xe”. Samuelsson đã không cường của các Ngân hàng trung ương, thực tiễn lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng quốc gia đã khẳng định vai trò tất yếu và hết sức quan trọng trung ương trong nên kinh tế. Lịch sử ngân hàng bắt đâu từ xa xưa và khởi nguồn từ phương Đông.
Chaldee Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên các ngôi đến tại xứ (thuộc nước lraq ngày nay) đã giữ vai trò có tính cách ngân hàng. Các tín đồ dâng lễ vật và gửi tài sản cho dén thờ, những người giữ đến đã dùng các kỳ tài sản ký gửi này để cho công chúng vay và được hưởng lãi suất. Thời chức ngành ngân hàng thực sự có quy mô, hoạt động đúng chức năng và tổ 17 trở lại đây. Từ thời có hệ thống phải kể đến thời kỳ cận đại từ thế kỷ thứ phát kỳ này, hàng loạt ngân hàng Ở các nước trên thế giới được thành lập và càng đa dạng và phức tạp.
Khi hệ thống tín triển với các chức năng ngày như kỳ đụng thương mại phát triển, các loại công cụ lưu thông tín dụng phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều. Kỳ phiếu ngân hàng với những ưu điểm của nó trở nên thông dụng và đã dần dần thay thế kỳ phiếu thương mại. Lúc đầu kỳ phiếu ngân hàng do nhiêu ngân từng hàng thương mại phát hành, những kỳ phiếu này chỉ lưu thông trong địa phương nên không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. Nền kinh tế và hàng hoá đòi hỏi có những kỳ phiếu lưu thông trên thị trường toàn quốc rãi mới phát hành được quốc tế.
Chỉ có những ngân hàng lớn, có uy tín rộng _ loại kỳ phiếu này. Ở một số nước kinh tế phát triển hơn, đã xuất hiện một vài ngân hàng thương mại lớn nhất, tách ra khỏi hệ thống ngân hàng thương mại, chuyên hàng phát hành kỳ phiếu ngân hàng để cho các doanh nghiệp và các ngân gọi là ngân hàng phát thương mại khác vay vốn. Những ngân hàng này ngân hàng hành. Trong một thời gian khá dài, ở nhiều nước, mặc dù đã có tiếp tục sử dụng quyền phát hành nhưng các ngân hàng thương mại vẫn này là một trong phát hành kỳ phiếu ngân hàng tại địa phương vì kỳ phiếu nổi với kỳ những nguồn vốn để cho vay, nhưng về sau do không cạnh tranh phiếu ngân hang phát hành nên phạm vi sử dụng thu hẹp và cuối cùng bị loại ra khỏi lưu thông.
Sau này cùng với sự phát triển của nên kinh tế, xu hướng chuyên môn hoá các ngân hàng ngày càng rõ rệt đến mức hình thành xu hướng tập trung nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu vào tay các ngân hàng phát hành. Để dễ dàng vay được nhiều tiền hệ trợ cho ngân sách, các Nhà nước tư sản trước đây ủng hộ và khuyến khích thành lập các ngân hàng phát hành. Nhiều Nhà nước đã ban hành những đạo luật hạn chế, đình chỉ việc phát hành kỳ phiếu của các ngân hàng thương mại; cho phép ngân hàng phát hành được độc quyền phát hành kỳ phiếu ngân hang. Ngân hàng phát hành giảm dần và đi đến ngừng hẳn việc giao dich cho vay vốn đối với các doanh nghiệp.
Ngân hàng phát hành chỉ nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, của ngân sách Nhà nước và phát hành kỳ phiếu ngân hàng, một loại tiền tín dựng để cho các ngân hàng thương mại vay và cho Nhà nước vay. Dần dần ngân hàng này trở thành ngân hàng phát hành trung ương của Nhà nước. Việc chuyển hoá này được tiến hành bằng nhiều con đường, trong đó có con đường quốc hữu hoá. Tất nhiên việc quốc hữu hoá được thực hiện bằng cách Nhà nước bỏ tiền ra mua lại ngân hàng phát hành.
Ngân hàng trung ương là một ngân hàng được luật pháp tách ra khỏi các ngân hàng khác thành ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng. Ngân hàng trung ương không giao dịch, trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng, mà giữ vai trò ngân hàng của các ngân hàng, bảo quản quỹ dự trữ tiền của các ngân hàng, cho các ngân hàng vay vốn khi cần thiết, thực hiện chính sách tiền tệ tín dụng của Nhà nước, làm nghiệp vụ thanh toán và tín dụng quốc tế với Ngân hàng trung ương các nước khác, làm cơ quan cấp tiền cho Ngân sách khi cần và làm một số nghiệp vụ cho Kho bạc Nhà nước. 2/ Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Ngân hàng trung trơng : Tuy thuộc vào địa vị pháp lý mà Ngân hàng trung ương ở các nước có những chức năng và nhiệm vụ cụ thể.