CHƯƠNG 1 “ Chương này nêu vấn đề tính cần thiết của đề tài. Trong đó, tính cần thiết xuất phát từ bối cảnh hội nhập sâu rộng của hệ thống NH hiện nay, cũng như tuân thủ định hướng chỉ đạo theo Quyết định số 986/QĐ-TTg của TTCP đã ban hành năm 2018 về “ Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó có nêu rõ mục tiêu “Phấn đấu đến cuối năm 2025, tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM lên khoảng 16 - 17%”. Trong thực tiễn ngày nay, các NH cũng đang nỗ lực mở rộng mạnh mẽ các hoạt động ĐDHTN bằng cách triển khai đa dạng cáci i loại hình SPDV ngoài lãi nhằm nâng cao tỷ trọng nguồn TNNL. i Chương này cũng xác định mục tiêu, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu.
Từ đó, nghiên cứu xây MHHQ phù hợp để tìm lời giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về ĐDHTN 2. Khái niệm ĐDHTN Theo Ansoff (1957) doanh nghiệp nào mà tổ chức hoạt động kinh doanh (HĐKD) từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên thì doanh nghiệp đó được xem là có sự đa dạng hóa.
Trong lãnh vực NH, hoạt động ĐDHTN xảy ra khi mà các NH tiến hành mở rộng HĐKD truyền thống tạo nguồn TNL đến từ hoạt động tín dụng là chủ yếu sang các loại hình dịch vụ khác để tạo nguồn TNNL (thu từ hoạt động phi tín dụng). Theo Mercieca và ctg (2007) phân loại, có thể xem hoạt động đa dạng hóa trong lĩnh vực NH ở trên ba khía cạnh: (i) đa dạng hóa các loại hình SPDV tài chính, “ (ii) đa dạng hóa địa lý, địa bàn mà NH hoạt động và thứ (iii) có sự kết hợp giữa đa dạng hóa các loại hình SPDV tài chính và đa dạng hóa địa lý, địa bàn hoạt động của NH. Mỗi NH tùy thuộc vào điều kiện nguồn lực của mình mà trong từng giai đoạn ” có thể lựa chọn chiến lược thực hiện theo một trong những khía cạnh trên. Mục tiêu cuối cùng vẫn là làm sao gia tăng doanh thu, gia tăng lợi nhuận, giảm thiểu chi phí, giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn, ngày càng thu hút thêm được nhiều khách hàng…để tạo nền tảng phát triển bền vững cho NH.
Theo Rose và Hudgins (2008), Elsas và ctg (2010) thì ĐDHTN của NH dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng của TNNL trong cơ cấu nguồn thu nhập của NH. Lúc này NH không chỉ còn tập trung vào một nguồn TNL như trước mà nguồn TNNL đã tăng dần lên tùy thuộc vào mức độ ĐDHTN của NH. Nguồn thu từ hoạt động ngoài lãi thường đến từ các loại hình SPDV tạo tạo phí và hoa hồng. Việc mở rộng hoạt động tạo phí và hoa hồng này góp phần làm gia tăng tỷ trọng của thành phần TNNL trong nguồn thu của NH.
Như vậy, ĐDHTN của NH chính là việc NH không còn chỉ tập trung vào mỗi mảng HĐKD truyền thống là mảng tín dụng, mà đã mở rộng sang các mảng kinh doanh khác để tạo thêm nguồn TNNL đến từ phí và hoa hồng. TNNL chiếm tỷ trọng càng cao có nghĩa mức độ ĐDHTN của NH càng lớn. Các phương pháp đo lường ĐDHTN ĐDHTN NH được đo lường bằng tỷ lệ TNNL (thu nhập phi tín dụng), chỉ số HHI hoặc DIVER. Có 3 phương pháp phổ biến để đo lường ĐDHTN gồm: a) Đo lường ĐDHTN bằng Tỷ lệ TNNL thuần Theo Gurbuz và ctg (2013), nguồn thu nhập NH gồm hai loại chính là TNL và TNNL.
Còn theo Elsa và ctg (2010) lại chia thu nhập của NH chi tiết hơn gồm bốn thành phần: TNL, TNDV, TNKDĐT và TNK. Do đó, nếu chia tổng thu nhập NH thành TNL và TNNL thì phần TNNL sẽ gồm: TNKDĐT, TNDV và TNK. Trên BCTC của các NHTM, các hoạt động được trình bày trên cơ sở thuần bằng công thức tổng thu nhập thuần = TNL thuần + TNNL thuần. Trong đó, TNL thuần của NH được tính bằng cách lấy thu nhập lãi trừ chi phí lãi; TNNL thuần được tính tương tự bằng cách thu nhập ngoài lãi trừ chi phí ngoài lãi (Gurbuz và ctg, 2013).
Tương tự như vậy, tổng thu nhập thuần được tính trên BCTC của các NHTM tại Việt Nam bao gồm các thành phần như: TNL thuần, thu nhập thuần (TNT) từ “ dịch vụ, TNT từ mua bán chứng khoán kinh doanh, TNT từ kinh doanh ngoại hối, TNT từ mua bán chứng khoán đầu tư, thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần và TNT từ hoạt động khác. Trong đó, TNNL thuần của các NHTM Việt Nam được tính như sau: TNNL thuần (thu nhập không đến từ hoạt động tín dụng) = (1) Thu nhập thuần (TNT) từ hoạt động dịch vụ + (2) TNT từ mua bán chứng khoán kinh doanh + (3) TNT từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + (4) TNT từ mua bán chứng khoán đầu tư + (5) Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần + (6) TNT từ hoạt động khác. Tương tự, Lee và ctg (2014), Moudud-Ul- Hud (2018) cũng dùng tỷ lệ TNNL thuần để đo lường ĐDHTN NH thông qua tỷ lệ NON. Công thức như sau: NON = TNNL thuần / Tổng thu nhập thuần Nếu NH có các thành phần thu nhập thuần đều ≥ 0 thì tỷ số NON có giá trị từ 0 đến 1.
Giá trị của NON càng lớn thì thể hiện mức độ ĐDHTN càng cao. 9 b) Đo lường ĐDHTN bằng chỉ số HHI hoặc DIVER Trong nghiên cứu của Gurbuz và ctg (2013), chỉ số HHI được sử dụng để đo lường mức độ tập trung nguồn thu nhập của NHTM. Thu nhập NH gồm hai thành phần: TNL và TNNL. Khi đó, công thức tính chỉ số ĐDHTN như sau: HHI = ( INT2 + NON2 ); Trong đó: INT – Tỷ lệ TNL thuần / Tổng TNT và NON – Tỷ lệ TNNL thuần / Tổng TNT “ Với Tổng thu nhập thuần (Tổng TNT) = TNL thuần + TNNL thuần; TNNL thuần = (1) TNT từ dịch vụ + (2) TNT từ kinh doanh đầu tư + (3) TNT khác Nếu các thành phần TNT của NH ≥ 0 thì HHI có giá trị từ 0,5 đến 1.
Ngân hàng đạt ĐDHTN hoàn toàn khi INT = NON hay là TNL thuần = TNNL thuần, lúc đó HHI = 0,5. Còn khi HHI = 1 có nghĩa NH có mức ĐDHTN thấp nhất, lúc này NON ─> 0 và INT ─> 1, tương đương TNNL thuần ─> 0 và TNL thuần tiến tới 1, xấp xỉ gần bằng với tổng TNT. Như vậy, HHI càng cao thì nguồn thu của các NH tập trung vào nguồn TNL càng lớn, đồng nghĩa với mức độ ĐDHTN càng thấp. Ngoài ra, theo Chiorazzo và ctg (2008) thì cũng có thể tính chỉ số ĐDHTN DIVER dựa vào chỉ số HHI như sau: DIVER = 1 - HHI = 1 - (INT2 + NON2) HHI có giá trị từ 0,5 ─> 1 nên DIVER có giá trị từ 0 ─> 0.
Giá trị DIVER càng gần 0.5 thì mức độ ĐDHTN càng cao. Khi DIVER = 0 nghĩa là nguồn thu của NH chỉ tập trung hoàn toàn vào nguồn TNL. Khi DIVER = 0,5 nghĩa là NHTM thực hiện ĐDHTN hóa hoàn toàn nên có TNL thuần = TNNL thuần. (Phụ lục 2) c) Đo lường ĐDHTN bằng tổng các thành phần trong TNNL ĐDHTN NH lúc này được tính bằng chỉ số HHI điều chỉnh như sau: HHI-Adjust = 1 – (TNL2 + TNDV2 + TNKD2 + TNK2); Trong đó: “ TNL = TNL thuần/ tổng thu nhập thuần (viết tắt là Tổng TNT); TNDV = TNDV/tổng TNT; TNKD = TNKDĐT/ tổng TNT; TNK = TNK/ tổng TNT.
“ Như vậy, ĐDHTN của NHTM đều tính trên Tỷ lệ TNNL trên tổng thu nhập thuần. TNNL có thể chia thành 3, 4, 6 thành phần khác nhau, việc tính toán thu nhập đều dựa trên cơ sở thuần. Tóm lại, ĐDHTN có thể tính toán dựa vào chỉ số HHI, HHI điều chỉnh hay chỉ số DIVER. Lý thuyết nền liên quan đến ĐDHTN 2.
Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng Theo Nzongang và Atemnkeng (2006), có thể sử dụng lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng–Balanced Porfolio Theory (đôi khi cũng được gọi là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại) để có cái nhìn sâu hơn trong việc tìm hiểu về HQHĐKD trong lãnh vực NH. Theo lý thuyết này, nhà đầu tư có thể tìm cách tối thiểu hóa rủi ro thị trường với mức lợi nhuận kỳ vọng nào đó bằng cách tạo ra một danh mục đầu tư đa dạng hóa. Vận dụng lý thuyết này để tìm hiểu về HĐKD ngành NH có thể lý giải việc các NHTM thực hiện ĐDHTN là nhằm mục tiêu giảm nguy cơ rủi ro do chỉ tập trung vào một nguồn TNL, đồng thời tìm kiếm cơ hội gia tăng lợi nhuận cho NH thông qua việc tạo ra các nguồn TNNL khác. Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô Lý thuyết về tính kinh tế theo quy mô được John C.
Panzar và Robert D. Willig phát triển vào năm 1977. Theo đó, chi phí sản xuất trung bình của doanh nghiệp sẽ giảm xuống khi doanh nghiệp thực hiện mở rộng chủng loại SPDV đang cung cấp trên thị trường. Khi triển khai thực hiện đa dạng các loại hình SPDV, doanh nghiệp phải tiến hành chuyển đổi cơ cấu nguồn lực, khai thác nguồn lực dùng chung.
Nếu doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn lực dùng chung cho nhiều lãnh vực thì tổng chi phí sản xuất sẽ giảm, tiết kiệm được chi phí và làm tăng HQHĐKD của NH. “ Vận dụng lý thuyết này, khi thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, NHTM có thể khai thác, vận hành các nguồn lực dùng chung như: nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, mạng lưới chi nhánh, các khách hàng, đối tác, kinh nghiệm, năng lực quản lý…nhằm để giảm thiểu chi phí. Do vậy, cùng một nguồn lực nhưng NHTM có thể mở rộng thêm các nguồn thu khác từ việc cung cấp đa dạng các loại hình SPDV cho khách khàng để tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận, nâng cao HQHĐKD của NH. Chẳng hạn như, hiện nay có nhiều NH làm đại lý độc quyền cho các hãng bảo hiểm lớn.
NHTM tận dụng triệt để quy mô mạng lưới chi nhánh, các phòng giao dịch ở khắp nơi, đội ngũ nhân viên, dữ liệu khách hàng, số lượng khách đến giao dịch tại quầy hằng ngày… để bán chéo các sản phẩm bảo hiểm – Bancassurance để hưởng hoa hồng, mang lại nguồn TNNL không nhỏ cho NH. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES– Efficient Structure) Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Lý thuyết ES) được phát triển bởi Demsetz (1973). Lý thuyết này cho rằng dưới áp lực của cạnh tranh, các doanh nghiệp có khả năng quản lý một cách có hiệu quả hoạt động sẽ chiếm được ưu thế so với các doanh nghiệp khác.