Chương 1: Tổng quan về RRTN và QTRRTN trong hoạt động của ngân hàng. Chương 2: Thực trạng về RRTN và QTRRTN tại BIDV Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác QTRRTN tại BIDV. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm rủi ro tác nghiệp Theo quy định của NHNN tại: Khoản 27, điều 2 Thông tƣ 41/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 v/v Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài: RRTN (hay còn gọi là rủi ro hoạt động) là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con ngƣời, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý). RRTN không bao gồm Rủi ro danh tiếng và Rủi ro chiến lƣợc [22] Theo Basel II: RRTN là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài [9]. RRTN là những rủi ro phát sinh do quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, hệ thống thông tin không hiệu quả, do sai sót kỹ thuật, những sai phạm trong kiểm soát nội bộ trong thực hiện quy trình, những biến cố không định trƣớc hay những vấn đề hoạt động khác có thể dẫn đến mất mát không định trƣớc hay những vấn đề về danh tiếng. Phạm vi và thời gian xảy ra những RRTN rất rộng lớn, nó có thể xảy ra bất kì lúc nào trong bất kỳ khoảng thời gian hoạt động nào của ngân hàng.
Phân loại rủi ro tác nghiệp Căn cứ theo định nghĩa về RRTN thì ta có thể phân RRTN thành 02 loại, đó là RRTN phát sinh từ trong nội bộ ngân hàng và RRTN phát sinh do 7 các yếu tố bên ngoài 1. RRTN phát sinh từ trong nội bộ ngân hàng - Rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc là các rủi ro phát sinh do các nguyên nhân: + Lựa chọn mô hình tổ chức, mô hình giao dịch không phù hợp. + Tuyển dụng, bố trí, đào tạo, sắp xếp, quy hoạch bổ nhiệm hay các chế độ đối với ngƣời lao động không phù hợp. + Không bố trí đảm bảo an toàn nơi làm việc cho cán bộ nhân viên.
- Rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định là các rủi ro xuất phát từ những nguyên nhân nhƣ: + Không có, thiếu hoặc quy định chƣa đầy đủ, chƣa chặt chẽ, chƣa cụ thể, có kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. + Những văn bản, quy định có sự chồng chéo, hoặc không thể thực hiện, những bất hợp lý, gây khó khăn cho ngƣời thực hiện. + Những văn bản, quy định có nội dung chƣa đúng với cơ chế chính sách; quy định của pháp luật hiện hành. - Rủi ro liên quan đến gian lận nội bộ xuất phát từ những nguyên nhân do các cán bộ tự thực hiện hoặc cấu kết với khách hàng/ngƣời bên ngoài để thực hiện các hoạt động phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của khách hàng hoặc ngân hàng, huỷ hoại uy tín của ngân hàng.
- Rủi ro liên quan đến gian lận bên ngoài là các rủi ro phát sinh do các hành động cố ý định gian lận, biển thủ tài sản, không tuân thủ pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản ngân hàng của khách hàng. - Rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc là các rủi ro phát sinh do các cán bộ thực hiện nghiệp vụ không đƣợc ủy quyền, vƣợt thẩm quyền, thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách nhiệm vụ đƣợc giao, không bảo vệ lợi ích chính đáng tối đa cho BIDV trong điều kiện có 8 thể thực hiện đƣợc, không tuân thủ quy định, quy trình; kiểm soát không chặt chẽ,… - Rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin là các rủi ro phát sinh từ vấn đề bảo mật, chƣơng trình hệ thống lỗi thời không hợp lý, gián đoạn hệ thống truyền dữ liệu, hệ thống hỏng hóc… 1. RRTN phát sinh do các yếu tố bên ngoài - Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tƣợng bên ngoài ngân hàng nhƣ: trộm cắp, cƣớp. giả mạo giấy tờ, giả mạo séc….
- Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (thiên tai, động đất, lũ lụt, bão,…) gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Rủi ro do các văn bàn, quy định của chính phủ, các ban ngành có liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp. - Rủi ro do con ngƣời: Rủi ro do con ngƣời tăng lên cùng với sự tham gia vào các hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch.
Các khía cạnh RRTN bao gồm hành vi gian lận, các lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhân viên. Các ngân hàng càng có nhiều nhân viên, điểm giao dịch và khách hàng thì rủi ro tác nghiệp ngày càng cao. - Rủi ro do quy trình chƣa phù hợp hoặc thực hiện quy trình chƣa đầy đủ, nghiêm túc: RRTN tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch, giao dịch có nhiều bƣớc, nhiều quy trình hoặc nhiều mốc tham chiếu, các giao dịch đòi hỏi phải có kiểm soát nội bộ và phê duyệt. Các giao dịch đƣợc xác định không rõ ràng hoặc không đƣợc xác định theo đúng chính sách quy định.
Mọi bộ phận hay quy trình của một tổ chức tín dụng đều chịu RRTN. - Rủi ro do hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ yếu kém. Đây chỉ là một phần của rủi ro tác nghiệp nhƣng lại có thể 9 ảnh hƣởng đến tất cả các loại rủi ro khác trong tô chức tín dụng. - Rủi ro do các yếu tố khách quan bên ngoài: Các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng cũng góp phần gây ra rủi ro tác nghiệp.
Các vấn đề về cơ sở hạ tầng nhƣ: Hệ thống truyền dữ liệu, giao thông, điện, nƣớc, điện thoại, các thay đổi về pháp lý, chính trị, ngay cả thời tiết khắc nghiệt cũng có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro trong ngân hàng. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp RRTN không chỉ gây thiệt hại cho ngân hàng về mặt tài chính mà còn gây ảnh hƣởng rất lớn đến uy tín, thƣơng hiệu của ngân hàng. Một số hậu quả mà ngân hàng gặp phải do rủi ro tác nghiệp gây ra. - Đối với hoạt động Marketting và bán hàng: Rủi ro tác nghiệp có thể đƣa ngân hàng rơi vào tình trạng khi đƣa các sản phẩm mới mà không đảm bảo cơ sở hạ tầng phù hợp do không áp dụng đúng các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới.
- Đối với hoạt động thanh toán: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là không thanh toán đƣợc theo yêu cầu của khách hàng hoặc thanh toán nhầm đối tƣợng thụ hƣởng - Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là tình trạng mất kiểm soát hệ thống hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động. - Đối với hoạt động tài chính: Hậu quả của rủi ro tác nghiệp có thể là việc định giá tài sản sai, các báo cáo lãi lỗ không hoàn chỉnh, các khoản mục kế toán không đƣợc đối chiếu. - Đối với hoạt động quản lý nhân sự: Hậu quả của rủi ro tác nghiệp có thể là hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết thúc hợp đồng lao động,. - Thiệt hại về mặt tài chính: RRTN xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau thì đem đến những hậu quả rất khác nhau.
Ví dụ nhƣ: cùng là 10 RRTN do yếu tố con ngƣời gây ra, nhƣng việc một giao dịch viên sơ suất trong khâu tác nghiệp nên đã tính và thu thiếu của khách hàng 200.000đ tiền phí thƣờng niên của thẻ, nhƣ vậy thiệt hại tài chính của ngân hàng tối đa chỉ là 200.000đ trong trƣờng hợp không thể truy thu của khách hàng. Còn trong trƣờng hợp cán bộ tín dụng cố ý cấu kết với khách hàng, nâng giá khống tài sản thế chấp để rút đƣợc số vốn lớn của ngân hàng, điều này có thể gây thiệt hại rất lớn về tài chính cho ngân hàng. Xét tổng thể, thiệt hại tài chính mà RRTN gây ra cho ngân hàng không hề nhỏ và theo nghiên cứu của Ủy ban Basel về ảnh hƣởng của RRTN thì thông thƣờng các ngân hàng sẽ phải mất đi 10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vì RRTN. - Thiệt hại về mặt uy tín, hình ảnh của ngân hàng: Cùng với thiêt hại về mặt tài chính thì uy tín, hình ảnh của ngân hàng là yếu tố bị ảnh hƣởng nghiêm trọng, không những riêng đối với ngân hàng gặp sự cố RRTN mà còn có thể ảnh hƣởng đến niềm tin của dân chúng vào cả hệ thống tài chính ngân hàng của cả quốc gia.
QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm quản trị rủi ro tác nghiệp Theo Basel 2, QTRRTN là quá trình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động tác động đến RRTN, bao gồm việc nhận biết một cách có hệ thống nguyên nhân gây ra rủi ro trong nghiệp vụ hàng ngày, đánh giá chi phí tiềm ẩn, thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phƣơng pháp quản lý RRTN để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lƣờng, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát RRTN nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra [25]. Mục tiêu chính của quản trị rủi ro là: - Né tránh rủi ro. 11 - Tối tiểu hoá tổn thất có thể xuất hiện và tối thiểu hoá hậu quả của một tổn thất.