Chương 1: Vấn đề chung về hiệu quả HĐV của NHTM Chương2: Thực trạng hiệu quả HĐV tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga. Chương3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động tại Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga những năm tới 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về HĐV ở NHTM 1. Khái niệm Hoạt động đầu tiên của loại hình NH sơ hai đó là giữ hộ tiền, thanh toán hộ cho KH và cho vay ngắn hạn dƣới hình thức chiết khấu thƣơng phiếu.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì hoạt động NH cũng ngày càng phát triển để làm tròn các chức năng của chúng, trong đó quan trọng nhất là thực thi chức trách của một trung gian tài chính nhằm chuyển hóa các nguồn vốn nhỏ lẻ, tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế tạm thời “thừa vốn” sang các chủ thể kinh tế “tạm thời” thiếu vốn cho SXKD hoặc tiêu dùng. Với việc thực thi chức năng này, NHTM làm cầu nối quan trọng giữa những ngƣời cho vay và đi vay, qua đó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Là một loại hình “doanh nghiệp đặc biệt”, cũng giống nhƣ bất kỳ loại hình inh doanh nào hác thì để tiến hành hoạt động kinh doanh, các NHTM cần phải có vốn. Tuy vậy, hác với các loại hình doanh nghiệp hác, vốn tự có của các NHTM thƣờng rất nhỏ (theo qui định của Basel II thì vốn chủ sở hữu ít nhất phải bằng 8% so tổng tài sản Có của NH) còn tại Việt Nam theo qui định hiện hành thì vốn chủ sở hữu tối thiểu phải ở mức 9% so tổng tài sản Có qui đổi theo mức độ rủi ro của NHTM.
Với tỷ lệ nhỏ nhƣ vậy thì có thể nói hầu nhƣ vốn chủ sở hữu của các NHTM chỉ để để sử dụng cho việc đầu tƣ vào các tài sản cố định là chính, cũng có nghĩa là vốn để cho vay và đầu tƣ ở NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào vốn huy động. Từ đó có thể thấy rằng vốn huy động là nhân tố “đầu vào” có tính quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM, cũng có nghĩa là hoạt động HĐV sẽ có ảnh hƣởng có tính quyết định đến các hoạt động kinh doanh của NHTM; gắn liền với nó, hiệu quả công tác HĐV có tính chất quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Hơn nữa, hác với các tổ chức hác, với tƣ cách của một trung gian trên thị 8 trƣờng tài chính, các NHTM chỉ HĐV bằng tiền nhằm phục vụ cho các hoạt động inh doanh trên thị trƣờng tài chính là chủ yếu. Từ các phân tích trên có thể hiểu: HĐV của NHTM là việc NHTM thông qua các phương pháp khác nhau, bằng việc sử dụng các công cụ khác nhau để HĐV tiền tệ trong nền kinh tế.
Mục tiêu chính của công tác HĐV của NHTM là: (i) Tìm kiếm nguồn vốn “rẻ” Chi phí trả lãi thƣờng là hạng mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí hoạt động của NHTM, trong đó, trả lãi cho huy động tiền gửi có ỳ hạn, trái phiếu và ỳ phiếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí trả lãi của NH. Chính vì thế, quản lý chi phí trả lãi luôn là hoạt động thƣờng xuyên và quan trọng nhất của NHTM. Bất cứ một sự thay đổi nào về lãi suất và cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, qua đó, sẽ ảnh hƣởng đến thu nhập của NHTM. Xuất phát từ thực tế này, các NHTM sẽ phải tính toán chi phí của từng nguồn vốn cụ thể, từ đó, cho phép nhà quản trị của NHTM xác định những nguồn vốn nào “rẻ” hơn, có nên thay đổi lãi suất huy động nguồn hay hông và nếu có thay đổi thì những thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí huy động nguồn tăng thêm hay hông? Xét về nguyên lý thì các nguồn vốn có ỳ hạn càng ngắn thì tính chất ổn định của chúng càng ém và do vậy chi phí huy động nguồn cũng sẽ phải thấp hơn.
(ii) Tạo ra nguồn vốn ổn định với cơ cấu hợp lý Về nguyên tắc cơ cấu nguồn vốn huy động phải căn cứ theo cơ cấu cho vay và đầu tƣ của NHTM. Cơ cấu cho vay và đầu tƣ càng đa dạng thì cơ cấu nguồn vốn huy động cũng càng cần có sự đang dạng để tránh những rủi ro kỳ hạn. Với một cơ cấu huy động nguồn vốn hợp lý sẽ giúp NHTM tránh đƣợc các căng thẳng về tài chính trong điều kiện môi trƣờng inh doanh có sự biến động phức tạp. (iii) Giúp xác lập qui mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động ổn định Qui mô nguồn vốn huy động phải phù hợp với qui mô hoạt động kinh doanh của NH - nghĩa là qui mô hoạt động kinh doanh của NH càng lớn thì nguồn vốn huy động cũng cần có sự tăng lên về qui mô cho phù hợp.
Tuy vậy, việc xác định qui 9 mô huy động nguồn nhƣ thế nào là phù hợp đòi hỏi phải đặt trong từng tình huống cụ thể của môi trƣờng inh doanh cũng nhƣ công tác dự báo. Nếu nhƣ môi trƣờng kinh doanh diễn biến phức tạp, đòi hỏi NHTM phải tăng qui mô nguồn vốn huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Việc xác lập qui mô và tốc độ tăng trƣởng huy động nguồn của NHTM cũng đòi hỏi cần có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố về lãi suất, chính sách mar eting, các hình thức huy động nguồn. trên cơ sở phải bảo đảm tính ổn định của nguồn huy động trong bất cứ tình huống nào, ể cả trong hiện tại và tƣơng lai.2 Vai trò của HĐV ở NHTM 1.
Đối với nền kinh tế Thứ nhất, Góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn xã hội. Quá trình huy động vốn của NHTM là quá trình tích tụ và tập trung vốn trong xã hội, sau đó đƣợc sử dụng để cho vay, đầu tƣ nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất inh doanh, phát triển inh tế xã hội và tiêu dùng của các tổ chức kinh tế, cá nhân. Tiết kiệm và đầu tƣ là nền tảng của phát triển inh tế, cụ thể: (i) Tiết kiệm góp phần thúc đẩy, mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cƣờng đầu tƣ. (ii) Đầu tƣ góp phần khuyến hích tiết kiệm.
NHTM với vai trò là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết iệm thành đầu tƣ, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền inh tế: (1) Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tƣ vƣợt quá thu nhập và vì thế họ là những ngƣời cần bổ sung vốn; (2) Các cá nhân và tổ chức thặng dƣ trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các hoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ, và do vậy họ có tiền tiết iệm. Tiền sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có lợi. Thông qua các ênh HĐV của NHTM đã góp phần chuyển các hoản tiết kiệm thành đầu tƣ, lƣu chuyển tiền tệ từ nơi thừa sang nơi thiếu, góp phần làm tăng 10 hiệu quả của nền kinh tế. Cụ thể: Đối với những người có vốn tạm thời nhàn rỗi: Việc HĐV của NH trƣớc hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi, đƣợc sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng, dòng tiền luôn đƣợc vận động, quay vòng.
Đối với những người cần vốn (cho đầu tư hoặc tiêu dùng): Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tƣ, phát triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của NH cũng nhƣ giúp tăng mức độ thỏa dụng với những cá nhân có nhu cầu chi tiêu cho tieue dùng cá nhân. Nhƣ vậy, HĐV của NHTM góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết iệm đƣợc chi phí, nguồn lực của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hóa. Các cơ hội đầu tƣ luôn có điều kiện để thực hiện. Quá trình tái sản xuất sẽ đƣợc thực hiện dễ dàng hơn.
Thứ hai, Góp phần thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của quốc gia Mục tiêu chính sách tài chính tiền tệ quốc gia là iềm chế và iểm soát lạm phát. Thông qua hoạt động HĐV, các NHTM đã góp phần điều tiết lƣợng tiền mặt trong lƣu thông, giúp ổn định giá trị đồng tiền. Các NHTM cũng là nơi cung cấp vốn để cho vay các dự án của chính phủ về phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, bù đắp sự thiếu hụt tạm thời cho ngân sách nhà nƣớc. Trong điều kiện nhu cầu vay tiêu dùng tăng nhanh thì với việc huy động tốt nguồn tienè tệ tạm thời nhàn rỗi sẽ giúp NHTM đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu này, qua đó giúp từng bƣớc đẩy lùi tình trạng tín dụng đen vốn diễn biến phức tạp trong các vùng nông thôn.
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Bất cứ một tổ chức kinh tế nào muốn hoạt động đƣợc đều cần có vốn tài chính, nhƣng đối với các NHTM do hoạt động với tƣ cách một trung gian trên thị trƣờng tài chính là đi vay để cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính tiện ích hác, nên vốn là điều kiện tiên quyết và nhu cầu về vốn sẽ càng cao hi NHTM gia tăng cung cấp các dịch vụ tài chính. Theo các tƣ liệu thống ê đã đƣợc công bố cho thấy nhu cầu vốn vay để inh doanh và tiêu dùng của các cá nhân và tổ chức thƣờng dựa chủ yếu vào các NHTM, điều này hông chỉ xảy ra tại các nƣớc đang phát 11 triển, mà còn xảy ra ngay tại các nƣớc phát triển với nhu cầu vốn đƣợc hệ thống NH đáp ứng luôn chiếm tỷ trọng trên 50% [4]. Nói cách hác, để có vốn inh doanh thì các NHTM phải tăng cƣờng HĐV. Từ đó, có thể nhận diện vai trò của công tác HĐV đối với các NHTM trên các góc độ sau: Thứ nhất, Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
(i) Ảnh hƣởng đến hoạt động cho vay của NHTM Nhƣ trên đã đề cập thì vốn tự có của các NHTM thƣờng há thấp, vì vậy để cho vay và đầu tƣ thì các NHTM phải dựa chủ yếu vào vốn huy động.