Chương 1. Cơ sở lý luận về hệ thống thông tin kế toán hỗ trợ đối với hoạt động tín dụng ngân hàng. Thực trạng về sự hỗ trợ của thông tin KTQT đối với hoạt động tín dụng tai chi nhánh Agribank Đồng Nai. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hỗ trợ của KTQT đối với hoạt động tín dụng tại chỉ nhánh Agribank Đồng Nai.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HE THONG THONG TIN KE TOAN HO TRO DOI VOI HOAT DONG TIN DUNG NGAN HANG 1. HE THONG THONG TIN KE TOAN TAI NHTM 1. Hé théng théng tin ké toan ngân hàng Kế toán là ngành khoa học xã hội, chuyên ngành nghiên cứu các phương pháp phân loại, đo lường, ghi nhận, tổng hợp, hệ thống các hiện tượng kinh tế tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tỉn khác nhau về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp.
Từ đó, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán doanh nghiệp phải có hai bộ phận chuyên môn đề đáp ứng nhu cầu thông tin của hai nhóm đối tượng này. Đó chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị; và cũng chính nền kinh tế thị trường, cạnh tranh làm nỗi bật KTQT, hình thành nên những nhận thức khác nhau về KTQT và thúc đầy KTQT phát triển nhanh chóng. Ngân hàng là một trong những loại hình doanh nghiệp lâu đời, đặc biệt và phức tạp nhất trong nền kinh tế, có lẽ vì thế mà cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về ngân hàng. Theo Luật các TCTD Việt Nam năm 2010, tại điều 1 có các khái niệm “Ngắn hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng”.
Trong đó, “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Hoạt động “Cap tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Như vậy, có thể nói rằng NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, đóng vai trò là một trung gian tài chính, thực hiện hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Trong đó hoạt động cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu, chiếm tý trọng lớn trong doanh số hoạt động của các NHTM.
Thông tin về mọi hoạt động của một NHTM được thu thập và xử lý theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Quy trình xử lý thông tin Thông tin đầu vào Lưu trữ, Xử lý Thong tin dau ra Vv Ỷ (1) (2) (3) Kế toán trong NHTM là một hệ thống thông tin chuyên tập hợp các thông tin ban đầu (thông tin đầu vào), đo lường, đánh giá, nhận xét cá c thô ng tin thu thập được (lưu trữ, xử lý), và cung cấp thông tin hữu ích qua các báo cáo định kỳ hoặc đột xuất (thong tin đầu ra) cho Ban lãnh đạo, làm cơ sở cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động kinh doanh trong NHTM. Hệ thống thông tin kế toán trong NHTM được tóm tắt như sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2: Hệ thống thông tìn kế toán Hoạt động của NHTM (1) Ra quyết `.định (6) Ni er Người sử dụng (Š) ỶỲ Đầu | Hệ thông thông tin kế toán (3) Đầu | Báo cáo kế toán (4) Nghiệp vụ kinh tế phát sinh (2) _—*Í Ghi nhận | Báo cáo | Xử lý Tài chính | Quản trị vao ra Theo Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003: - Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu câu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. - Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Tại Điều 5, Luật Kế toán quy định Nhiệm vụ kế toán như sau: 1.
Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán. Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tải sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các hoạt động của NHTM được hệ thống thông tin kế toán ghi nhận, phân loại và báo cáo kết quả cho nhiều đối tượng khác nhau theo những định hướng phản ảnh, cung cấp thông tin khác nhau: 1. KẾ toán tài chính tại NHTM Theo luật kế toán Việt Nam, qua các số liệu kế toán, kế toán tài chính tại NHTM phản ảnh mọi hoạt động của NHTM cho các đối tượng bên ngoài, các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thông tin của NHTM như nhà đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý chức năng của nhà nước. Tại điểm 3, điều 29 của Luật kế toán quy định các Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm có: a) Bảng cân đối kế toán; b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; c) Báo cáo lưu chuyền tiền tệ; d) Bản thuyết minh báo cáo tài chính. e Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình nguồn vốn và tài sản ròng của một NHTM tại một thời điểm theo từng tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán của NHTM.
e Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM được hệ thống kế toán báo cáo qua việc trình bày các khoản thu nhập và chi phi theo ban chất và cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính giá trị các khoản thu nhập và chi phí chủ yêu. Mỗi loại thu nhập, chi phí được trình bày theo các chỉ tiêu riêng biệt giúp người sử dụng có thể đánh giá được tình hình hoạt động của ngân hàng. Trong đó thu nhập về lãi và chi phí lãi được trình bày riêng rễ nhằm cung cấp thông tin chỉ tiết hơn về các yếu tố cấu thành thu nhập lãi và lý do của sự thay đôi thu nhập lãi. Đối với NHTM, tiền không chỉ là tài sản có tính thanh khoản cao mà còn là “hàng tồn kho”, do đó, tiền không thể sinh lợi được nếu được giữ tại ngân hàng.
Cho nên, phần lớn tiền của NHTM phải được cho vay hoặc đầu tư sinh lợi, chỉ được giữ lại một phần để đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. Bản thuyết minh báo cáo tài chính của NHTM là báo cáo giải trình cho các thông tin trọng yếu trên báo cáo tài chính. Thông tin trong bản thuyết minh báo cáo tài chính thường gồm 2 phần: - Phần thứ nhất là thông tin về phương pháp kế toán mà NHTM áp dụng như phương pháp ghi nhận doanh thu, phương pháp trích khấu hao. - Phần thứ hai giải thích cụ thể về các kết quả tài chính và hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM.
Nếu Ban lãnh đạo của NHTM chỉ căn cứ vào Báo cáo tài chính để lấy thông tin ra các quyết định điều hành thì các nhà quản trị sẽ gặp phải những hạn chế: Thứ nhất, mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin cho các đối tượng phần lớn bên ngoài ngân hàng, do đó những thông tin cung cấp trong báo cáo tài chính là của toàn bộ NHTM, người sử dụng không có thông tin về kết quả hoạt động của từng bộ phận (phòng, ban, chi nhánh trong NHTM). Thứ hai, trên báo cáo tài chính, thu nhập và chi phí được trình bày theo khoản mục và chỉ trình bày các chỉ tiêu chủ yếu, do đó người sử dụng không thể biết được kết quả của từng hoạt động kinh doanh, từng loại tài sản, từng sản phẩm, từng nhóm khách hàng, trong khi những thông tin này rất cần thiết cho việc ra quyết định của Ban lãnh đạo NHTM. Thứ ba, báo cáo tài chính lập theo luật định và theo định kỳ, do đó không thể cung cấp một cách linh hoạt, kịp thời thông tin chỉ tiết ở các mức độ khác nhau cho Ban lãnh đạo. Do đó, trong một NHTM, việc chỉ tô chức công tác kế toán tài chính là chưa đủ mà cần phải xây dựng kế toán quản trị về mọi hoạt động của NHM song song với kế toán tài chính để có thể cung cấp cho Ban lãnh đạo các thông tin chỉ tiết trên nhiều khía cạnh khác nhau về kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng như lợi nhuận của từng loại tài sản, từng bộ phận, từng sản phẩm, từng nhóm khách hàng để từ đó có cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động theo từng đơn vị, bộ phận và có quyết định quản trị kịp thời nhằm khắc phục những điểm yếu và phát huy những thế mạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
KẾ toán quản trị tại NHTM Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm KTQT trên thế giới năm 1998, “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”. Thông qua định nghĩa trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của KTQT tại NHTM nhu sau: - KTQT nhắn mạnh việc cung cấp số liệu cho mục đích sử dụng nội bộ của nhà quản lý: Kế toán quản trị sử dụng các thông tin kế toán ban đầu, xử lý, cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu của nhà quản trị ngân hàng.