Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Định hƣớng và một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – chi nhánh Hà Nội. 9 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng và ngƣợc lại, hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Cho vay là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử ngân hàng.
“Đầu tiên, những nhà buôn tiền đã dùng vốn tự có để cho vay, nhƣng điều đó không kéo dài. Từ thực tiễn, họ nhận thấy thƣờng xuyên có những ngƣời gửi tiền vào và ngƣời lấy tiền ra nhƣng ngƣời gửi tiền không đồng thời rút tiền cùng một lúc đã tạo ra số dƣ thƣờng xuyên trong két. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay. Từ đó, hoạt động cho vay ra đời và ngày càng phát triển theo hƣớng đa dạng hoá các sản phẩm, mở rộng tài trợ sang nhiều lĩnh vực”.
“Cho vay là việc ngân hàng đƣa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải sử dụng tiền vay đúng mục đích và hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định”. Theo luật các tổ chức tín dụng 2015 của Việt Nam: “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”[31,5] Nhƣ vậy, có thể hiểu, “cho vay đối với khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, 10 hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh”. “Cho vay khách hàng cá nhân đóng góp lớn đến sự lƣu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình”. Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân gồm: Thứ nhất, đối tượng vay.
“Đối tƣợng khách hàng cá nhân vay thƣờng là những ngƣời buôn bán nhỏ, nông dân, hộ thủ công nghiệp, thợ may, cơ khí, sinh viên, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ…hoặc là đại diện hộ gia đình thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay và cam kết cùng trả nợ cho ngân hàng. Họ có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng nhƣ khi họ cần tiền để mua nhà, mua ô tô hay khi họ muốn tiền của họ giữ an toàn mà vẫn có lãi”. Mặc dù thị trƣờng khách hàng cá nhân nhỏ nhƣng quy mô lại tƣơng đối lớn về số lƣợng đối với thị trƣờng khách hàng doanh nghiệp. Khách hàng cá nhân có nhu cầu rất đa dạng và phức tạp, có sự khác nhau về tuổi tác thu nhập, giới tính, địa vị xã hội….
cũng có nhu cầu riêng cụ thể nhƣ sau: + “Nhóm có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của họ thƣờng hạn chế bởi họ rất khó khăn trong chi tiêu. Ngƣợc lại họ cố gắng tìm cách vay mƣợn để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà không có khả năng đáp ứng bởi hạn chế từ thu nhập.” + “Nhóm có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm ngƣời này có xu hƣớng ngày càng tăng. Mặc dù những ngƣời này có thể có những nguồn tài chính thực sự song họ vẫn muốn để mua sắm hàng, chi tiêu cho sản phẩm có thể tốt hơn.” 11 + “Nhóm có thu nhập cao: Đối với nhóm ngƣời này tín dụng tạo điều kiện cho họ có thêm các khoản phụ trợ kinh doanh và trợ giúp vào khả năng thanh toán, đặc biệt là khi tiền của họ bị trói chặt vào những khoản đầu tƣ dài hạn. Dù việc vay mƣợn của họ nhằm mục đích tín dụng chỉ thể hiện là một tỉ trọng nhỏ trong tổng số của cải mà họ tạo ra nhƣng họ vẫn thƣờng đụng chạm tới những món lớn vì vậy mà ngân hàng đã đặc biệt quan tâm đến khách hàng cá nhân này”.
Thứ hai, Quy mô khoản vay. Quy mô của các hợp đồng cho vay KHCN thƣờng nhỏ hơn nhiều so với cho vay đối với KHDN là do KHCN vay vốn thƣờng là để đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trên quy mô hộ gia đình nên số vốn mà họ xin vay thƣờng không lớn. Thêm vào đó điều kiện về tài sản đảm bảo của KHCN thƣờng không nhiều và không có giá trị lớn ràng buộc làm cho số vốn NHTM chấp thuận cho KHCN vay không cao nhƣ các khoản cho vay KHDN. Đồng thời khi khách hàng có nhu cầu mua sắm hàng hóa để tiêu dùng, họ thƣờng có xu hƣớng tiết kiệm từ trƣớc.
Họ tìm đến ngân hàng để bù đắp phần thiếu hụt tạm thời. Tuy vậy, số lƣợng KHCN đến vay vốn tại NHTM lại lớn hơn nhiều lần so với số lƣợng KHDN, đặc biệt ở các NHTM hoạt động theo định hƣớng là ngân hàng bán lẻ số lƣợng này là rất lớn. Chính vì vậy tổng quy mô cho vay KHCN của các NHTM vẫn chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng dƣ nợ của ngân hàng. Thứ ba, mục đích vay.
“Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của ngƣời đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trƣởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tƣơng lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn, do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái ngƣời dân thƣờng có xu hƣớng giảm tiêu dùng, giảm đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, 12 thay vào đó là sẽ tăng cƣờng tiết kiệm và hạn chế vay mƣợn từ Ngân hàng.
Nhu cầu vay của khách hàng thƣờng kém nhạy cảm với lãi suất, thông thƣờng ngƣời đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.” Khách hàng vay thƣờng chú ý đến việc đƣợc ngân hàng cho vay bao nhiêu trên số tài sản bảo đảm hay trên mức thu nhập của họ là chính. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng. Thứ tư, rủi ro đối với cho vay KHCN. “Cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và đƣợc coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.
Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc…” Những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng trong cho vay KHCN phần nào mang tính định tính và khó xác định ví dụ nhƣ tƣ cách của khách hàng, chất lƣợng của thông tin tài chính…. “Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có đƣợc khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tƣơng lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay”. Thứ năm, lãi suất cho vay.
“Do quy mô của các khoản vay thƣờng nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản) nhƣng chi phí bỏ ra để quản lý lại rất lớn đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thƣờng cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM”. 13 Thứ sáu, Chi phí quản lý trên một khách hàng là lớn. Cho vay KHCN là khoản mục cho vay có chi phí cao hơn nhiều so với khoản mục cho vay KHDN do số lƣợng các khoản cho vay KHCN là rất lớn nhƣng quy mô của từng khoản vay thƣờng nhỏ nên các NHTM phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhân lực và công cụ) trong việc phát triển khách hàng, lập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt, và quản lí các khoản vay… Một nguyên nhân khác khiến chi phí của các khoản cho vay KHCN cao là vì hoạt động cho vay KHCN ở nƣớc ta mới đƣợc phát triển trong những năm gần đây, nhiều hình thức cho vay còn khá mới mẻ đối với khách hàng.
Do đó, các ngân hàng phải tiến hành các chƣơng trình quảng cáo giới thiệu sản phẩm để phát triển khách hàng, mở rộng thị phần, hoạt động này góp phần làm cho chi phí các khoản cho vay KHCN tăng thêm.Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Thứ nhất, đối với khách hàng. Hoạt động cho vay KHCN đóng vai trò rất quan trọng đối với các cá nhân, hộ gia đình khi họ có nhu cầu cần vốn để tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh. Tiếp cận nguồn vốn ngân hàng là biện pháp hữu hiệu không những có thể giải quyết nhu cầu cấp bách về tiêu dùng mà còn hỗ trợ mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần cải thiện thu nhập, đời sống của khách hàng khi họ chƣa có khả năng chi trả, thanh toán tức thời tại thời điểm hiện tại. - Cho vay tiêu dùng giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng với khả năng thanh toán của khách hàng, ngƣời tiêu dùng đƣợc hƣởng những lợi ích từ hàng hóa, dịch vụ trƣớc khi họ tích lũy đủ tiền, giải quyết nhu cầu cấp bách một cách nhanh chóng.