Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu về quản lý rủi ro Ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng về rủi ro và Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng MHB - Chi nhánh Phú Thọ(nay là BIDV – Chi nhánh Hùng Vương) Chương 4. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân BIDV - Chi nhánh Hùng Vương 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tín dụng là quan hệ vay mƣợn, tạm thời sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tƣởng. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhiều loại hình quan hệ tín dụng cùng tồn tại nhƣ tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế.
Trong đó tín dụng ngân hàng có thể đƣợc coi là quan hệ tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất với nền kinh tế và thƣờng xuyên đƣợc quan tâm nghiên cứu. Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng thƣơng mại, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, một bên là các chủ thể còn lại của nền kinh tế. Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân hàng là: Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là việc cho vay của Ngân hàng thƣơng mại với các chủ thể của nền kinh tế. Theo Điều 98 Luật số 47/2010/QH12 Luật Các tổ chức tín dụng thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ký thì “cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, triết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” 1.
- Một là, tín dụng dựa trên nền tảng lòng tin: Khi Ngân hàng và ngƣời vay xác lập quan hệ tín dụng thì dựa trên yếu tố cốt lõi và là điều kiện 6 z tiên quyết đó là phải có lòng tin và uy tín. Ngân hàng trƣớc khi đi đến quyết định cho vay phải thẩm định các yếu tố kỹ thuật và quan trọng nhất là xác định xem ngƣời vay có đủ uy tín để tin tƣởng giao vốn hay không, đồng thời khi cho vay Ngân hàng luôn đặt niềm tin rằng ngƣời vay sẽ hoàn trả đầy đủ gốc và lãi khi đến hạn. Bên cạnh đó ngƣời vay cũng tin vào khả năng phát huy hiệu quả của đồng vốn vay, làm ăn hiệu quả và trả đƣợc nợ ngân hàng đúng hạn. Sự gặp gỡ của Ngân hàng và ngƣời đi vay về lòng tin tƣởng là điều kiện để xác lập quan hệ tín dụng.
Cơ sở của lòng tin này có thể đến từ uy tín của ngƣời đi vay, tính khả thi của phƣơng án sử dụng vốn, của điều kiện đảm bảo hoặc đƣợc bảo lãnh bởi bên thứ 3, ngoài ra còn đƣợc dựa trên khả năng chấp nhận và quản lý rủi ro của Ngân hàng. - Hai là, tín dụng có tính thời hạn: Xuất phát từ tính chất tạm thời của quá trình chuyển giao quyền sử dụng vốn bắt nguồn ngay từ tính chất của hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thƣơng mại. Tín dụng luôn gắn liền với quá trình luân chuyển vốn từ hình thái giá trị sang hình thái hiện vật và ngƣợc lại, với chu kì của quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng. - Ba là, tín dụng có tính hoàn trả: Do chiụ sự chi phối của tính chất thời hạn, nguồn vốn mà bản thân ngân hàng đi vay cũng phải thanh toán theo những quy định cụ thể, hoạt động cho vay của Ngân hàng cũng phải có những ràng buộc nhất định đối với khách hàng vay để đảm bảo thu hồi vốn theo kế hoạch định sẵn, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ cho các chủ nợ khác của Ngân hàng.
- Bốn là, tín dụng có tính chuyển nhƣợng tạm thời: Tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ Ngân hàng sang ngƣời đi vay. Lƣợng giá trị này đƣợc ngƣời đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định sau đó sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng. Đối tƣợng của sự chuyển nhƣợng chủ yếu là chuyển nhƣợng tiền tệ. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhƣợng đề cập đến thời gian sử dụng lƣợng 7 z giá trị đó.
Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa khách hàng và Ngân hàng, hai bên tham gia vào quá trình chuyển nhƣợng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lƣợng giá trị đó. Nếu không đảm bảo sự phù hợp này sẽ ảnh hƣởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của các bên, dẫn đến nguy cơ phá vỡ quan hệ tín dụng. Thực chất tín dụng Ngân hàng chỉ có tính chuyển nhƣợng tạm thời lƣợng giá trị mà không thay đổi quyền sở hữu với lƣợng giá trị đó, ngƣời nhận quyền sử dụng chỉ có quyền sử dụng theo các điều kiện thỏa thuận mà không có quyền sở hữu. Các nguyên tắc tín dụng Hoạt động của Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Thƣơng mại nói riêng là các hoạt động dựa trên uy tín và hƣớng đến các mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lợi.
Để đạt đƣợc những mục tiêu trên các hoạt động này phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này đƣợc cụ thể hóa trong các quy định của ngân hàng Nhà nƣớc và các Ngân hàng Thƣơng mại, với một số nội dung chính sau: Một là, khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định: Các khoản tín dụng của Ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản Ngân hàng vay mƣợn. Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả lãi lẫn gốc nhƣ đã cam kết. Do vậy Ngân hàng luôn yêu cầu ngƣời nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này.
Đây là điều kiện tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Hai là, cho vay có cam kết sử dụng vốn theo đúng mục đích được thỏa thuận: Việc sử dụng vốn trƣớc hết phải không trái với những quy định của pháp luật và các quy định khác của Ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các Ngân hàng, trên cơ sở đó mỗi Ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng, cụ thể hơn. Mục đích tài trợ đƣợc ghi rõ trong hợp đồng tín dụng đảm bảo Ngân hàng không tài trợ cho 8 z các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó là phù hợp với chính sách của Ngân hàng.
Ba là, Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả: Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất. Phƣơng án hoạt động có hiệu quả của ngƣời vay chứng minh cho khả năng thu hồi đƣợc vốn đầu tƣ và có lãi để trả nợ cho Ngân hàng. Các khoản tài trợ của Ngân hàng phải gắn liền với tài sản hình thành của ngƣời vay. Do vậy, nếu xét thấy không hoặc kém an toàn, Ngân hàng đòi hỏi ngƣời vay phải có tài sản đảm bảo.
Vai trò của tín dụng. Trên cơ sở phát huy đƣợc các chức năng vốn có của Ngân hàng, tín dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của không chỉ quốc gia đó mà còn ngay cả đối với các nƣớc mà nó có quan hệ giao dịch hay đặt chi nhánh. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển: Tín dụng cho đến thời điểm hiện nay vẫn giữ chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng Thƣơng mại.
Bất kỳ một tổ chức cá nhân nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục, đòi hỏi đều phải có vốn kinh doanh (Vốn cố định và vốn lƣu động) và các nguồn vốn này đồng thời phải tồn tại dƣới ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lƣu thông. Trong thực tế, sản xuất kinh doanh không phải lúc nào doanh nghiệp cũng cần một lƣợng vốn bình quân nhƣ nhau, nên hiện tƣợng thừa thiếu vốn tạm thời là tình trạng thƣờng xuyên xảy ra. Từ đó tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Trong khoảng 10 năm trở lại đây để duy trì tốc độ phát triển GDP từ 6-8%/năm thì suất đầu tƣ luôn chiếm tỷ lệ từ 28 - 30% GDP, nhƣ vậy để gia tăng 1% GDP 9 z thì cần suất vốn đầu tƣ 4% GDP, chỉ số này cần đƣợc cải thiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tuy nhiên có thể thấy để đáp ứng suất vốn đầu tƣ trên chủ yếu thông qua kênh tín dụng của các Ngân hàng, góp phần rất lớn vào thúc đẩy phát triển sản xuất của nền kinh tế, có thể khái quát nhƣ sau: Thứ nhất: Tín dụng Ngân hàng đóng góp vai trò quan trọng trong việc giải quyết vốn tín dụng ứ đọng ở nơi này bù đắp sự thiếu hụt tạm thời ở nơi khác. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất thì yêu cầu về vốn là rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu đƣợc đặt ra đối với các nhà quản lý của các doanh nghiệp. Bởi lẽ để đẩy mạnh tiến độ phát triển sản xuất không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà các doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn trong xã hội. Tín dụng Ngân hàng lúc này sẽ đóng vai trò là trung tâm đáp ứng những nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tƣ và phát triển.
Nhƣ vậy, tín dụng vừa góp phần đẩy mạnh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế, vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn đƣợc thời gian huy động vốn cho đầu tƣ mở rộng sản xuất. Trong phạm vi đó, tín dụng giữ vai trò điều hòa vốn mà không làm tăng thêm hoặc giảm đi tổng nhu cầu trong nền kinh tế. Thứ hai: Tín dụng Ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp đƣợc giao quyền tự chủ trong xác định ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì?, sản xuất nhƣ thế nào? và sản xuất phục vụ cho đối tƣợng khách hàng nào?