Chương 1. Tổng quan về phương pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu Chương 2. Kinh nghiệm áp dụng phương pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu trên thế giới Chương 3. Phương hướng áp dụng phương pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu cho doanh nghiệp sản xuất Việt Nam 5 Chƣơng 1.
Tổng quan về phƣơng pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu 1. Nội dung của phƣơng pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu 1. Khái niệm phƣơng pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu Những phiên bản sơ khai của phương pháp tính giá thành theo Chi phí mục tiêu xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ 20 tại Công ty Ford (Mỹ) và phát triển mạnh hơn vào những năm 1930 tại Công ty Volkswagen Beetle (Đức). Cụ thể, tại Volkswagen Beetle, để đạt được giá bán mục tiêu cho sản phẩm ô tô DM 990, các biện pháp kỹ thuật đã được nghiên cứu và thực hiện để giảm thiểu chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm này xuống một mức chi phí mục tiêu.
Tuy nhiên, việc áp dụng và phát triển phương pháp này thành một phương pháp quản lý chi phí hiện đại như hiện nay được thực hiện tại Tập đoàn Toyota, Nhật Bản vào khoảng giữa nhưng năm 1960s, cụ thể là 1963 (Feil và cộng sự, 2004). Cho đến tận cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, phương pháp tính giá thành theo CPMT hầu như không được nhắc tới trong lĩnh vực học thuật. Tuy nhiên, trên thực tế, Toyota đã phát triển phương pháp này thành một trong những vũ khí sắc bén và bí mật để sản xuất được những chiếc ô tô có chất lượng tốt mà giá cả lại phù hợp với người tiêu dùng. Đến cuối thập kỷ 70, phương pháp tính giá thành theo CPMT đã giúp Toyota trở thành hãng xe ô tô hàng đầu thế giới, cạnh tranh gay gắt với các tập đoàn xe hơi lâu đời của Châu Âu và Mỹ.
Đồng thời, từ những năm đầu của thập kỷ 80, hàng loạt các tập đoàn lớn của Nhật Bản vươn lên phát triển mạnh mẽ và trở thành các tập đoàn toàn cầu nhờ sự áp dụng phương pháp tính giá thành theo CPMT. Sau đó, rất nhiều các tập đoàn lớn của Bắc Mỹ và Châu Âu cũng bắt đầu áp dụng phương pháp này để nâng cao khả năng quản lý chi phí sản xuất và giá thành cũng như khả năng cạnh tranh toàn cầu của mình (Moden và Hamada, 1991; Sakurai, 1992; Tanaka, 1993; Horngren và cộng sự, 2012). Kết quả là phương pháp tính giá thành theo CPMT phát triển nhanh chóng với 6 nhiều phiên bản khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Điều này cũng dẫn đến tồn tại khá nhiều khái niệm về phương pháp tính giá thành theo CPMT.
Phương pháp tính giá thành theo CPMT bắt nguồn tại Nhật Bản với tên gọi là « Genka kikaku » (Monden và Hamada, 1991) và được áp dụng phổ biến tại các nước phương Tây vào những năm 1990s (Cooper, 1995 ; Kato, 1993a 1993b). Phương pháp này chủ yếu tập trung vào việc quản lý chi phí, giá thành trong dài hạn bởi vậy nó được coi là một phương pháp kế toán quản trị chiến lược (Nguyễn và Aoki, 2014 ; Dekker và Smidt, 2003; Chenhall và Langfield-Smith, 1998 ; Tani, 1995). Tên gọi tiếng Anh của phương pháp « Genka kikaku » thành « Target costing » cũng nhận được một số ý kiến không đồng tình của một số nhà nghiên cứu Nhật Bản ; họ cho rằng nên dịch phương pháp « Genka kikaku » thành « Target cost management » (Kato, 1993). Phương pháp tính giá thành theo CPMT bản chất rộng hơn các phương pháp tính giá thành thông thường như phương pháp tính giá thành toàn bộ, phương pháp tính giá thành định mức, phương.
Đây là một phương pháp « quản lý, thiết kế và lập kế hoạch chi phí, giá thành » (cost planning) (Kato, 1993, Dekker và Smidt, 2003). Do đó, phương pháp tính giá thành theo CPMT đã được phát triển thành một phương pháp quản trị lợi nhuận đó là phương pháp giá bán mục tiêu (Target Pricing). Cốt lõi của Target Pricing chính là Target costing. Target pricing bắt đầu bằng việc xác định giá bán mục tiêu (Target Price) dựa trên cơ sở hiểu biết của doanh nghiệp về khách hàng của mình như tại mức giá nào khách hàng là nhiều nhất và dựa trên cơ sở hiểu biết về giá của các đối thủ cạnh tranh cùng mặt hàng.Theo Horngren và cộng sự (2012), trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự hiểu biết về khách hàng của mình và về các đối thủ cạnh tranh rất quan trọng vì các lý do sau: + Sự cạnh tranh gay gắt từ nhừng đối thủ với giá rẻ hơn sẽ diễn ra không ngừng cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ.
7 + Thời gian sống của các sản phẩm trên thị trường ngày càng ngắn lại nên các công ty có ít thời gian và cơ hội để sửa chữa các sai lầm trong việc định giá bán sản phẩm, dẫn đến rất dễ mất thị phần và mất lợi nhuận. + Khách hàng ngày càng thông minh hơn và luô n có nhu c ầu đối với các sản phẩm chất lượng tốt hơn và giá cả lại rẻ hơn. Sakurai (1989) định nghĩa Phương pháp tính giá thành theo CPMT là một công cụ quản lý chi phí với mục tiêu giảm thiểu chi phí của một sản phẩm trong suốt vòng đời của sản phẩm đó với sự kết hợp của rất nhiều bộ phận trong công ty gồm bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm, thiết kế và kỹ thuật, sản xuất, marketing và bộ phận kế toán. Nó là một công cụ giúp giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không chỉ ở giai đoạn sản xuất mà còn ở giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế sản phẩm trong vòng đời của sản phẩm đó.
Định nghĩa này có từ khá lâu nên khái niệm về Phương pháp tính giá thành theo CPMT cũng đã phát triển theo thời gian. Theo Monden (1995), Phương pháp tính giá thành theo CPMT là một phương pháp quản lý lợi nhuận của công ty ngay từ giai đoạn phát triển sản phẩm mới. Phương pháp này bao gồm: (1) lên kế hoạch sản xuất các sản phẩm có chất lượng như khách hàng mong đợi. (2) xác định chi phí mục tiêu cho sản phẩm mới để đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng trong trung và dài hạn trong điều kiện thị trường cạnh tranh, (3) phát minh các phương pháp để thiết kế được sản phẩm mà vừa đạt được chất lượng và chi phí mục tiêu như vậy.
Theo Consortium for Advanced Management-International (CAM-I), phương pháp tính giá thành theo CPMT là một phương pháp lập kế hoạch lợi nhuận và quản lý chi phí s ản xuất dựa trên sự điề u tiế t của thi ̣trường và khách hàng , tâ ̣p trung vào khâu nghiên cứu và thiế t kế sản phẩ m và đ ược áp dụng trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm. Theo CAM-I, phương pháp tính giá thành theo CPMT có các nguyên tắ c chính như sau: 8 - Giá bán sản phẩm được xác định đầu tiên và theo giá thị trường. - Tâ ̣p trung vào khách hàng : sản xuấ t sản phẩ m phải đáp ứng đươ ̣c các yêu cầ u của khách hàng về chất lượng , về giá bán , và thời gian phân phối sản phẩm. Sản phẩm phải mang lại những giá trị mà khách hàng mong muốn.
- Tâ ̣p trung vào khâu thiế t kế : viê ̣c kiể m soát chi phí sản xuấ t hay giá thành của sản phẩm phải được thực hiện ngay từ các khâu nghiên cứu , phát triển và thiết kế sản phẩ m. Sản phẩm sau khi đươ ̣c sản xuấ t hàng loa ̣t và tung ra thị trường sẽ đáp ứng ngay được các yêu cầu về giá cả và chất lượng của khách hàng. Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của Cooper (1995) là 90% giá thành của sản phẩm đã được quyết định ngay sau khâu thiết kế sản phẩm. - Đội phát triển sản phẩm theo CPMT phải đượ c thành lâ ̣p bao gồ m đa ̣i diê ̣n của tấ t cả các bô ̣ phâ ̣n sẽ liên quan đế n quá triǹ h ta ̣o ra sản phẩ m : bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm, kỹ sư thiết kế , kỹ sư sản xuất, bộ phận marketing, kế toán viên quản trị…Đội này sẽ chịu t rách nhiệm về sản phẩm từ khâu nghiên cứu đế n khâu sản xuấ t hàng loa ̣t và bán ra thị trường cuố i cùng.
Đồng thời, tấ t cả các thành viên tham gia và quá trình tạo ra sản phẩm như : các nhà cung cấp yế u tố đầ u vào , nhà phân ph ối sản phẩm , khách hàng tiềm năng… đều phải đươ ̣c tham khảo ý kiế n trong viê ̣c xây dựng CPMT. - Viê ̣c kiể m soát và giảm thiể u chi phí phải đươ ̣c tiń h toán trong suố t vòng đời của sản phẩm. Như vậy có thể thấy tồn tại nhiều khái niệm nhưng về bản chất của phương pháp tính giá thành theo CPMT có thể đưa ra khái niệm chung như sau: Phương pháp tính giá thành theo CPMT là một quá trình xác định chi phí mục tiêu cho sản phẩm ngay từ những giai đoạn nghiên cứu- phát triển sản phẩm đầu tiên và quá trình nỗ lực đạt được chi phí mục tiêu đó trong suốt giai đoạn thiết kế và phát triển sản phẩm để nhằm thu được lợi nhuận mục tiêu khi sản phẩm được sản xuất 9 hàng loạt và bán trên thị trường. Phương pháp tính giá thành theo CPMT có thể được hiểu là một phương pháp quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chiến lược theo dạng cộng thức như sau: Chi phí mục tiêu = Giá bán mục tiêu – Lợi nhuận mục tiêu (Target Cost = Target Price – Target Margin) Trong đó: Target Cost là Chi phí mục tiêu, Target Price là giá bán mục tiêu, và Target Margin là mức lợi nhuận mục tiêu.
Trình tự của phƣơng pháp tính giá thành theo chi phí mục tiêu Ansari và cộng sự (2006) đưa ra trình tự để tính giá thành theo chi phí mục tiêu như sau: Target Cost = Target Price – Target Margin. Trong đó, Target Cost là giá thành mục tiêu, Target Price là giá bán mu ̣c tiêu , và Target Margin là mức lợi nhuận mục tiêu. Đầu tiên công ty xác định Target Price bằng cách nghiên cứu, phân tích giá cả hiê ̣n hành trên th ị trường, giá của các đối thủ cạnh tranh, giá mà người tiêu dùng mong muốn đố i với sản phẩ m mình sản xuấ t. Sau đó, xác định Target Margin căn cứ vào chiến lược và các kế hoạch lợi nhuận của công ty.