MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các ngân hàng thương mại Việt Nam ban đầu chủ yếu có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, mới chỉ chú trọng vào cung cấp một số các dịch vụ và sản phẩm chuyên biệt của ngân hàng cho thị trường nội địa. Sau khi hội nhập, mở cửa thương mại đã dẫn đến sự gia tăng trong cạnh tranh giữa các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài. Từ năm 2007, các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh để huy động tiền gửi tại Việt Nam đã dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trong quá trình chạy đua huy động vốn trong ngành ngân hàng.
Dòng vốn quốc tế ra vào Việt Nam ngày càng gia tăng; kết hợp với sự xuất hiện của nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài có những lợi thế về kinh nghiệm quản lý, trình độ chuyên môn cao, khoa học công nghệ phát triển, tiềm lực về vốn lớn mạnh… dẫn đến sự cạnh tranh cao cũng như sức ép lớn trên thị trường của các ngân hàng nội địa. Quá trình phát triển nhanh đã kéo theo những hệ lụy cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, như: hệ số nợ xấu cao, sở hữu chéo của ngân hàng lớn, trong khi số lượng các ngân hàng nước ngoài ngày càng tăng lên mạnh mẽ thì chất lượng của các ngân hàng nội địa lại có xu hướng giảm sút. Từ đây, để có thể tăng được lợi nhuận, một số ngân hàng Việt Nam đã lựa chọn cách nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ của mình cho khách hàng. Hai chiến lược được các ngân hàng Việt Nam lựa chọn đó là sáp nhập, hội nhập và mua bán lại hoặc là đa dạng hóa và nâng cao năng lực tài chính của mình.
Là một trong những NHTM hàng đầu của Việt Nam về quy mô, về sự đa dạng số lượng và chất lượng trong sản phẩm và dịch vụ cung ứng, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam luôn đi đầu, bắt kịp với xu thế của thị trường. Tuy nhiên, để có thể cạnh tranh với những ngân hàng nước ngoài, đạt được mục tiêu hướng ra các nước trong khu vực và thế giới, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam cần không ngừng nâng cao khả năng tài chính, nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Từ năm 2007-2018, BIDV đã trải qua ba biến cố lớn: khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008; thực hiện cổ phần hóa gia tăng vốn của mình năm 2012, thực luan an 2 hiện sáp nhập NHTMCP Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long - MHB năm 2015. Những mốc lịch sử này đã tác động rất mạnh tới hiệu quả kinh doanh của BIDV.
Là một trong tứ trụ của NHTM Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần Đầu Tư và Phát triển Việt Nam cần phải đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh, vị thế, đáp ứng được tiêu chuẩn của khu vực và thế giới trong quá trình hoạt động. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn: “Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ. Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trong nước liên quan tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.
Nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại - Luận án “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Bích Lương [15] thực hiện nghiên cứu về giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 sử dụng phương pháp so sánh, phân tích và điều tra chọn mẫu. Tác giả đã chỉ ra được các nhóm chỉ tiêu để làm căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Nhà nước Việt Nam như lợi nhuận, ROE, ROA, lãi suất, thu nhập và chi phí, khả năng thanh toán. Tác giả cũng đã bàn đến những thành tích cũng như hạn chế trong hoạt động của NHTM Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn này, và từ đó đưa ra một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM đó. - Luận án “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của Nguyễn Việt Hùng [10] thực hiện nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở VN thông qua cách tiếp cận tham số (SFA) và phi tham số (DEA).
Tác giả đã đưa ra một số các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM theo nhóm hoạt động, như: nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập và chi phí (bao gồm tổng chi phí hoạt động/tổng thu từ hoạt động, năng suất lao động, tổng huy động/tổng tài sản,.); nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính (tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ giữa tài sản luan an 3 nhạy cảm với lãi suất,…); nhóm chỉ tiêu khác (tổng dư nợ trên vốn huy động,. Tác giả tiến hành phân tích dựa trên số liệu thống kê về đầu vào, đầu ra và giá của tư bản. Sau quá trình chạy biến, kết quả đưa ra là hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam có ảnh hưởng cùng chiều với quy mô ngân hàng, sở hữu của ngân hàng, thị phần của ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản. Các nhân tố còn lại, như: tỷ lệ tiền gửi/cho vay, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, tỷ lệ thu về lãi/thu về hoạt động,… đều có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM được nghiên cứu, - Luận án “Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn Thụy [42].
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng sơ bộ và nghiên cứu chính thức, tác giả đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố năng lực cạnh tranh (khả năng quản trị, khả năng marketing, khả năng tài chính, khả năng đổi mới sản phẩm và dịch vụ, khả năng tổ chức phục vụ, và khả năng quản trị rủi ro) đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Tác giả đã xác định thang đo cho các nhân tố ảnh hưởng đó cũng như cho kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Kết quả đạt được sau khi sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho các nhân tố và kiểm định mô hình bằng SEM là: (1) ba nhân tố khả năng tài chính, khả năng marketing, và khả năng quản trị rủi ro có tác động cùng chiều với mức độ rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM (lần lượt ở mức 0,304; 0,307; và 0,310); (2) hai nhân tố còn lại là khả năng tài chính và khả năng đổi mới sản phẩm, dịch vụ có tác động cùng chiều đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM ở mức độ thấp hơn (0,164 và 0,078; 0,081). Hạn chế của luận án là mới chỉ dừng lại ở việc phân tích 6 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của NHTM, mới chỉ dừng lại ở việc phân tích mang tính chủ quan.
- Luận án “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” của Trương Thị Hoài Linh [14] đã đưa ra có lý luận về hiệu quả của ngân hàng, bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả tài chính, từ đó đưa ra hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả tài chính để đánh giá hoạt luan an 4 động của ngân hàng phát triển qua các dự án của mình. Tác giả đã thực hiện phân tích, đánh giá về hoạt động của ngân hàng Phát Triển Việt Nam qua các hoạt động chính của ngân hàng (như hoạt động huy động, hoạt động cấp tín dụng, bảo lãnh,…) cho giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010. Từ thực trạng đó, tác giả đưa ra được những thành công, hạn chế cũng như phân tích được các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, làm cơ sở đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng cho các giai đoạn sau. - Luận án “Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Quốc Anh [1] cho kết quả là hiệu quả kinh doanh của NHTM bị ảnh hưởng bởi rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, tỷ lệ đòn bẩy, quản lý chi phí, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế.
Cụ thể: khi rủi ro tín dụng tăng lên sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh của NHTM giảm; Quy mô ngân hàng càng lớn sẽ dẫn đến sự gia tăng trong hiệu quả kinh doanh; tỷ lệ đòn bẩy càng cao, hiệu quả kinh doanh sẽ có xu hướng giảm do các NHTM có thể không có sự cân đối giữa các nguồn huy động với phương án cho vay; Tỷ giá hối đoái có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả kinh doanh, và thể hiện rằng hiệu quả kinh doanh của NHTM sẽ giảm nếu tỷ giá tăng lên; Và tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. - Luận án “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” của Tạ Thị Kim Dung [7] áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích thống kê, phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát, phương pháp dự báo, phương pháp diễn giải và quy nạp. Tác giả thực hiện phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTMCP Kỹ thương Việt Nam, đối chiếu so sánh với các ngân hàng đối thủ trong cùng khu vực, làm nổi bật những mặt được và hạn chế, cũng như chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó. Nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của một số nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại - Luận án “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Lê Thị Hương [11] với phương pháp duy vật biện chứng, tiếp cận hệ thống, phương pháp khảo nghiệm tổng kết thực tiễn, điều tra - phân tích - luan an 5 tổng hợp thống kê đã thực hiện phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư của các NHTMQD Việt Nam trước giai đoạn 2002.