Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.1 Khái niệm ngân hàng thương mại. Theo luật của tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai mặt cơ bản: Sinh viªn Hoµng Ngäc ¸nh Kt6 K8 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Luan van Trêng §¹i häc C«ng NghiÖp Hµ Néi 9 Khoa kinh tÕ - Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan nhà nước. - Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.
Các loại hình của ngân hàng thương mại: + Ngân hàng thương mại quốc doanh: là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn của nhà nước. + Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. + Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại. + Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động tại Việt Nam.
Qúa trình phát triển của ngân hàng thương mại gắn liền với quá trình phát triển của thị trường tài chính thông qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nghiệp vụ hoạt động rất đơn giản nhưng càng về sau, theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá, tổ chức cũng như các nghiệp vụ của các ngân hàng càng phát triển và hoàn thiện hơn. Ngày nay các ngân hàng thương mại có xu hướng phát triển ngày càng toàn diện với quy mô rộng cùng nhiều loại hình dịch vụ huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư cho vay. Sự phát triển của các ngân hàng không còn nằm trong phạm vi quốc gia mà mang tính chất toàn cầu.
Ví dụ: Ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu á (ADB)… việc áp dụng công nghệ thông tin và hệ thống trang thiết bị hiện đại càng làm cho hoạt động ngân hàng trở nên hoàn thiện. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam từ khi ra đời tới nay đã dần khẳng định được vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong Sinh viªn Hoµng Ngäc ¸nh Kt6 K8 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Luan van Trêng §¹i häc C«ng NghiÖp Hµ Néi 10 Khoa kinh tÕ việc thực thi chính sách tài chính – tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận tiền gửi để cho vay đối với nền kinh tế, với vai trò trung gian tài chính trong hoạt động của mình, ngân hàng thương mại vẫn phải tuân theo sự quản lý của Nhà nước mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân hàng trung ương. Chính dưới sự quản lí này, hệ thống ngân hàng thương mại đã thực hiện được chức năng của mình đối với nền kinh tế.
Để hiểu rõ hơn về ngân hàng thương mại, đặc biệt là tầm quan trọng của ngân hàng thương mại đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ta sẽ tìm hiểu các hoạt động của ngân hàng thương mại.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại. Cũng giống như một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận hay nói đúng hơn là tối đa hoá giá trị tài sản của ngân hàng và thông qua đó thực hiện tốt vai trò là trung gian tài chính trong nền kinh tế. Ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có một số đặc tính và dùng tiền thu được để mua những tài sản có đặc tính khác. Như thế các ngân hàng cung cấp một dịch vụ chuyển một loạt tài sản thành một loạt tài sản khác cho công chúng.
Nghiệp vụ này đã tạo ra lợi nhuận thặng dư cho ngân hàng đồng thời tạo tiện ích cho khách hàng để đôi bên cùng có lợi. Nghiệp vụ tài sản nợ (nguồn vốn): Đây là nghiệp vụ tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại thực hiện huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu tư, cho vay đối với các thành phần kinh tế, giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà xưởng phục vụ kinh doanh. Nghiệp vụ tài sản có (sử dụng vốn): - Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt: Sinh viªn Hoµng Ngäc ¸nh Kt6 K8 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Luan van Trêng §¹i häc C«ng NghiÖp Hµ Néi 11 Khoa kinh tÕ Ngân hàng dự trữ tiền mặt nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và khả năng thanh toán thường xuyên, liên tục của khách hàng vào bất kì lúc nào.
Dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động, cơ cấu và tính chất nguồn vốn của ngân hàng thương mại. - Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng tham gia góp vốn đầu tư, liên doanh, thành lập công ty con… - Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại sử dụng phần lớn số tiền huy động được để cho vay đối với nền kinh tế. Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay là nguồn thu nhập chính để bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của ngân hàng và thu lợi của ngân hàng thương mại.
Các dịch vụ ngân hàng: Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các ngân hàng thương mại đã tiến hành cung ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng như: dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn…trên cơ sở đó ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động của dịch vụ ngân hàng ngày càng mở rộng về số lượng và chất lượng. Các ngân hàng đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc. Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho ngân hàng vì xu hướng phát triển trong ngân hàng thương mại hiện đại là mở rộng các hoạt động dịch vụ, đồng thời vẫn duy trì các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động, các ngân hàng thương mại có thể vừa tăng thu nhập vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng các sản phẩm tài chính.
Sinh viªn Hoµng Ngäc ¸nh Kt6 K8 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Luan van Trêng §¹i häc C«ng NghiÖp Hµ Néi 12 Khoa kinh tÕ Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế, đó chính là doanh lợi hối đoái. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập và huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được giúp cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh.
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại chia làm 2 phần: vốn chủ sở hữu và tài sản nợ.1 Nguồn vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại, thường là dưới 10%, nhưng nó lại có vai trò rất quan trọng và quyết định tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại vì nó là nguồn tài chính đảm bảo cho các khoản nợ đối với khách hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn tự có, vốn và các quỹ, lơI nhuận để lại. Nguồn vốn này có phạm vi sử dụng rộng rãi nhất so với các ngiồn vốn khác như mua sắm xây dựng ngân hàng, đầu tư cho vay.
vì nó thuộc quyền sở hữu của ngân hàng và ngân hàng có quyền sở hữu nó một cách chủ dộng. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các khoản phải trả, phải nộp khác, bên tài sản phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng đó là việc đầu tư hay cho vay vào thị trường và các khoản dự trữ, phải thu và tài sản cố định. Tài sản có = Tài sản nợ + vốn chủ sở hữu.2 Tài sản nợ. Nguồn vốn thuộc tài sản nợ chiếm tỷ trọng trên 90% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại, với ngân hàng MHB thì tài sản nợ chiếm tỷ Sinh viªn Hoµng Ngäc ¸nh Kt6 K8 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Luan van Trêng §¹i häc C«ng NghiÖp Hµ Néi 13 Khoa kinh tÕ trọng 91% trong tổng nguồn vốn.
Tài sản nợ bao gồm nguồn vốn huy động, vốn vay và các khoản phải trả, tài sản nợ khác.1 Nguồn vốn huy động. Trong quá trình hoạt động kinh doanh và phục vụ tốt nhu cầu khách hàng, các ngân hàng thương mại đã làm tôt các chức năng vốn có của mình như làm thủ quỹ cho xã hội và là trung gian thanh toán, trung gian tín dụng…ngân hàng thương mại đã huy động được nguồn vốn lớn gấp nhiều lần nguồn vốn bản thân ngân hàng, đó là nguồn vốn huy động. Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như nghiệp vụ tiền gửi, thanh toán và các nghiệp vụ khác của ngân hàng. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nói chung và trong tài sản nợ nói riêng, thường từ 70 – 80% trong tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn huy động được cấu thành từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi dân cư và phát hành giấy tờ có giá trong đó tiền gửi dân cư chiếm tỉ trọng lớn nhất.