CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ Giới thiệu Chương này sử dụng lý thuyết đại diện và lý thuyết ngữ cảnh nghiên cứu về hệ thống KSNB; dựa trên các nghiên cứu trước, sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử để tổng hợp khái niệm về hệ thống KSNB và xác định các nguyên tắc của hệ thống KSNB theo khuôn khổ COSO và Basel; đồng thời, tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài và trong nước, từ đó rút ra những khoảng trống nghiên cứu làm nền tảng thực hiện luận án nghiên cứu về hệ thống KSNB các NHTM Việt Nam. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu về hệ thống KSNB 1. Cơ sở lý thuyết đại diện Theo các báo cáo của Coase, R. Trong những năm 1960 và đầu thập niên 1970, các nhà kinh tế Arrow, K., (1968) khảo sát việc chia sẻ rủi ro và lợi nhuận giữa các cá nhân hoặc nhóm.
Tài liệu khảo sát này mô tả các vấn đề về chia sẻ rủi ro phát sinh khi các bên hợp tác có thái độ khác nhau đối với rủi ro và lợi nhuận [43] [135]. Lý thuyết đại diện được mở rộng trong tài liệu chia sẻ rủi ro này là vấn đề đại diện xảy ra khi các bên hợp tác có mục tiêu và phân công lao động khác nhau [87] [115]. Cụ thể, lý thuyết đại diện hướng vào các mối quan hệ đại diện; trong đó một bên (người chủ), chỉ định người khác và người quản lý công ty (người đại diện), người thực hiện quản lý công ty. Lý thuyết đại diện giải thích mối quan hệ giữa người chủ và các đại diện trong kinh doanh (nhà quản lý công ty).
Lý thuyết đại diện liên quan đến việc giải quyết các vấn đề có thể tồn tại trong mối quan hệ đại diện; đó là, giữa người chủ (cổ đông) và các đại diện của người chủ (nhà điều hành công ty). Lý thuyết đại diện hướng tới giải quyết hai vấn đề, (1) vấn đề nảy sinh khi nhu cầu hoặc mục tiêu của người chủ và đại diện bị xung đột, (2) vấn đề phát sinh khi người chủ và đại điện có thái độ khác nhau đối với lợi ích và rủi ro [66]. luan an 12 Lý thuyết đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông. Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp cao với nhà quản lý các cấp thấp hơn trong hệ thống phân quyền, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của tổ chức [66].
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa người chủ và người đại diện trong công ty. Cả hai bên có lợi ích khác nhau, vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty; thông qua thiết lập những cơ chế thích hợp cho các nhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty [66]. (1983) định nghĩa một mối quan hệ đại diện là “một hợp đồng theo đó một hay nhiều người chủ thuê người khác (đại diện) để thực hiện một số hoạt động thay mặt người chủ thông qua một số ủy quyền quyết định cho đại diện”. Một công ty bao gồm những mối liên hệ hợp đồng giữa các chủ sở hữu nguồn lực kinh tế (người chủ, cổ đông) và nhà quản lý (các đại diện) sử dụng và kiểm soát những nguồn lực.
Các nhà nghiên cứu dựa trên lập luận rằng “Kể từ khi mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty phù hợp với định nghĩa của mối quan hệ đại diện thuần túy, các vấn đề liên quan đến việc tách quyền sở hữu và kiểm soát công ty gắn liền mật thiết với các vấn đề chung của đại diện” [67] [68] [87] [88]. Lý thuyết đại diện thừa nhận rằng các đại diện có nhiều thông tin hơn so với người chủ và bất đối xứng thông tin này ảnh hưởng xấu đến khả năng của người chủ để theo dõi lợi ích của mình có được phục vụ đúng bởi các đại diện [87], để tối đa hóa lợi ích của mình, các đại diện có thể hành động chống lại lợi ích người chủ. Từ khi người chủ không có quyền truy cập các thông tin có sẵn tại thời điểm các quyết định được thực hiện bởi đại diện, người chủ không thể xác định hành động của đại diện có vì lợi ích tốt nhất cho công ty hay không [108] [117]. luan an 13 Theo Eisenhardt, K.
(1989) lý thuyết đại diện tập trung vào giải quyết hai vấn đề xảy ra trong mối quan hệ đại diện: vấn đề đại diện và các vấn đề chia sẻ lợi ích và rủi ro. Vấn đề đại diện xảy ra khi lợi ích của người chủ và đại diện bị xung đột, vấn đề này sẽ dẫn đến khó khăn hoặc tốn kém cho người chủ để giám sát hành động của các đại diện. Mặt khác,vấn đề của việc chia sẻ lợi ích và rủi ro xảy ra khi người chủ và đại diện có những thái độ khác nhau đối với lợi ích và rủi ro [66]. Trong một công ty, có thể các chủ sở hữu không phải là những nhà quản lý.
Cổ đông thành lập một hội đồng quản trị làm nhiệm vụ thuê người quản lý để điều hành công ty. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát dẫn đến sự phân hóa trong lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, được gọi là vấn đề đại diện trong các công ty [66]. Dựa trên lý thuyết đại diện giới thiệu bởi Jensen, M. Các mâu thuẫn đại diện có thể được giảm bớt bằng những cơ chế quản trị.
Do đó, quản trị công ty là cần thiết để giúp các công ty đồng bộ hóa lợi ích và chia sẻ rủi ro của các thành viên trong công ty [79]. Quản trị công ty là một hệ thống luật lệ, quy tắc, chính sách; nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát hoạt động của công ty [76]. Quản trị công ty bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ công ty, ban giám đốc điều hành, hội đồng quản trị mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài công ty: cơ quan quản lý nhà nước, các đối tác kinh doanh, và cả môi trường, cộng đồng và xã hội. Do vậy, cơ chế quản trị công ty có thể được chia thành các cơ chế quản trị nội bộ và cơ chế quản trị bên ngoài [76] [113].
Các cơ chế quản trị nội bộ có nguồn gốc từ các thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc điều hành, hệ thống kế toán quản trị, hệ thống KSNB và các chức năng kiểm toán nội bộ. Trong khi các cơ chế quản trị bên ngoài có nguồn gốc từ thị trường vốn, thị trường kiểm toán, thị trường lao động, tình trạng kinh tế, tình trạng nhà nước, chủ sở hữu chứng khoán và các hoạt động đầu tư. luan an 14 Chất lượng của các cơ chế quản trị nội bộ liên quan chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động tốt hơn của công ty [41]. Trong các cơ chế quản trị nội bộ nêu trên, cơ chế quản trị thông qua hệ thống KSNB được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả.
Do vậy, cơ chế quản trị thông qua hệ thống KSNB có liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty. Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống KSNB trong công ty, hệ thống KSNB cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các người chủ sở hữu. Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập hệ thống KSNB nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những người chủ sở hữu của công ty. Hệ thống KSNB có thể được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của công ty.
Sự khác nhau trong hệ thống KSNB xuất phát từ hai quan điểm đối lập. Quan điểm thứ nhất, theo Berle, A. Quan điểm thứ hai, theo Fama, E. Kết luận, lý thuyết đại diện cho rằng trong các công ty tồn tại vấn đề đại diện đó là: “tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát sẽ dẫn đến xung đột lợi ích và chia sẻ rủi ro”.
Quản trị công ty giúp hài hòa lợi ích các thành viên trong công ty và giúp cho hoạt động của công ty hiệu quả hơn. Cơ chế quản trị công ty có thể được chia thành các cơ chế quản trị nội bộ và quản trị bên ngoài. Hệ thống KSNB là một trong những cơ chế quản trị nội bộ công ty nhằm giúp hài hòa lợi ích, chia sẽ rủi ro giữa nhà quản lý và chủ công ty; phục vụ quản lý và giúp công ty đạt hiệu quả cao. Hệ thống KSNB là một công cụ trong quản lý, phục vụ tốt nhất cho lợi ích công ty, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý các rủi ro [70] [74] [98] [100] [105].
Nghiên cứu hệ thống KSNB dựa trên lý thuyết đại diện giải thích cho sự cần thiết tồn tại hệ thống KSNB luan an 15 trong công ty. Đây cũng là cơ sở lý thuyết nền tảng cần thiết cho nghiên cứu về hệ thống KSNB trong lĩnh vực NHTM tại Việt Nam. Cơ sở lý thuyết ngữ cảnh Các nhà nghiên cứu lý thuyết về tổ chức truyền thống tin rằng có thể xác định được cấu trúc tổ chức tối ưu cho tất cả các công ty [71] [129] [133]. Tuy nhiên, trong thực tế, cơ cấu tổ chức có sự thay đổi đáng kể nên khó có thể xác định được cấu trúc tổ chức tối ưu chung cho các công ty.
Do vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng những lý thuyết trước đây theo quan điểm của Weber, F. Bởi vì đã quên rằng, phong cách quản lý và cơ cấu tổ chức bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh khác nhau của môi trường đó là các yếu tố ngữ cảnh. Do vậy, không thể có “một cách tốt nhất” cho nhà lãnh đạo để tổ chức và điều hành công ty. Hiệu quả của một công ty phụ thuộc vào sự phù hợp với cơ cấu tổ chức và các biến theo ngữ cảnh như môi trường, chiến lược, công nghệ, quy mô, văn hóa tổ chức [44] [45] [59].