Chương 1: Giới thiệu Chương 2:Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các Ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng cấu trúc tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 5: Giải pháp vận dụng các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện cấu trúc tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 6 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Cấu trúc tài chính của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm cấu trúc tài chính Theo Tài chính doanh nghiệp hiện đại[5], CTTC bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn và vốn chủ sở hữu (VCSH) – tất cả đều được dùng để tài trợ tài sản của ngân hàng. CTTC trừ đi nợ ngắn hạn sẽ cho ta cấu trúc vốn (CTV) của ngân hàng. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình doanh nghiệp vì nó ra đời là để kinh doanh, mục đích hoạt động là vì lợi nhuận.
Thêm nữa, NHTM cũng có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp hiện hữu, cũng tự chủ về tài chính và cũng có nghĩa vụ đóng thuế cho ngân sách Nhà nước. Do đó, CTTC của các NHTM cũng mang nét tương đồng như các doanh nghiệp khác.[6] Trong một Bảng cân đối kế toán ngân hàng, phía bên phải là Nguồn vốn bao gồm các khoản nợ phải trả và VCSH được dùng để chỉ CTTC của ngân hàng. Như vậy, nghiên cứu về CTTC của các NHTM là đi vào nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn mà ngân hàng huy động để tài trợ cho tài sản của mình[7]. Hay nói một cách chính xác hơn thì việc đi xác định CTTC cho các NHTM là đi xác định mức độ đòn bẩy tài chính (LEV) phù hợp trong cơ cấu nguồn vốn huy động.2 Thành phần cấu trúc tài chính của Ngân hàng thương mại Để có vốn hoạt động, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng nguồn vốn tự có là chính.
Ngược lại, là trung gian tài chính, NHTM chủ yếu huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong xã hội. Như vậy, về phương diện vốn hoạt động, NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác mà ngân hàng không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc nhất định. Bảng cân đối kế toán của các NHTM phản ánh nguồn hình thành nguồn vốn hiện có 5 Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007.Tài chính doanh nghiệp hiên đại.Hồ Chí Minh: Nhà xuất Thống kê 6 Trần Huy Hoàng, 2011.Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại. TPHCM: Nhà xuất bản lao động xã hội 7 Đoàn Ngọc Phi Anh, 2010.Các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC và hiệu quả tài chính:Tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn.
Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5 (40), trang 15 7 vào thời điểm lập báo cáo của ngân hàng, được chia thành nợ phải trả và nguồn VCSH, qua đó nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng. Nợ phải trả Nợ phải trả (nguồn vốn phải trả) của NHTM bao gồm: các khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của khách hàng, các công cụ tài chính phái sinh và các khoản nợ tài chính khác, phát hành giấy tờ có giá, các khoản nợ khác. Nguồn vốn phải trả của NHTM nhằm đảm bảo cho ngân hàng luôn có đủ nguồn vốn để duy trì và phát triển một cách có hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu thanh khoản ở mức độ chi phí thấp nhất (Trần Huy Hoàng, 2011). Tuy nhiên, nợ phải trả trong Bảng cân đối kế toán của NHTM sẽ không chia thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn giống như trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Nguyên do là vì phần lớn nợ phải trả của NHTM đều có thể thực hiện hay thanh toán trong thời gian gần. Vốn chủ sở hữu VCSH của NHTM là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên… VCSH bao gồm hai bộ phận: Vốn của chủ sở hữu ban đầu và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động. VCSH ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTMNN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTMCP) bao gồm cổ phần thường và các cổ phần ưu đãi. Mức vốn này phải đảm bảo bằng mức vốn pháp định.
VCSH hình thành trong quá trình hoạt động (VCSH bổ sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn… Trên Bảng cân đối kế toán của NHTM, VCSH bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, Vốn điều lệ là vốn 8 được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động thì nghĩa vụ thanh toán nợ sẽ được thanh toán theo thứ tự: các khoản tiền gửi của khách hàng, nghĩa vụ với Chính phủ và người lao động, các khoản vay và cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu. Nếu quy mô VCSH càng lớn thì người gửi tiền và người cho vay càng cảm thấy an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau).
Do đó, VCSH được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng. Đồng thời, VCSH còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng. VCSH ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ. Phần lớn VCSH là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ.
Phần còn lại của VCSH tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Với những ý nghĩa quan trọng đó có thể nói một NHTM có mức VCSH lớn là yếu tố đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn, đồng thời thể hiện sức mạnh tài chính của bản thân ngân hàng.3 Sự cần thiết nghiên cứu cấu trúc tài chính của các ngân hàng Các NHTM kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Với loại hình kinh doanh đặc biệt của mình, các NHTM hiện nay có CTTC chủ yếu là nợ, hệ số đòn bẩy tài chính cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp phi tài chính. Vì vậy, để tồn tại và phát triển trong xu thế hội nhập đòi hỏi các NHTM phải nhận thức được đầy đủ sự cần thiết của việc nghiên cứu CTTC, nhằm: 2.1 Đáp ứng yêu cầu tối đa hóa lợi nhuận và đạt mục tiêu tăng trưởng Các NHTM cần nghiên cứu CTTC để đảm bảo đạt hiệu quả cao sử dụng vốn kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận và mục tiêu tăng trưởng. Cụ thể: Đảm bảo đủ vốn cho kinh doanh với chi phí hợp lý 9 NHTM muốn tiến hành kinh doanh thì trước hết phải có đủ vốn hay tiềm lực tài chính để duy trì hoạt động và phát triển.
Việc sử dụng một CTTC hợp lý sẽ giúp cho các NHTM có mức vốn đầy đủ. Quy mô vốn sẽ quyết định quy mô nguồn tiền gửi, quy mô cho vay tối đa đối với một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, mở chi nhánh, mua sắm tài sản cố định, thành lập công ty con…Như vậy, quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng được điều chỉnh theo quy mô vốn của ngân hàng. Với phương thức kinh doanh “đi vay để cho vay”, đòi hỏi ngân hàng phải xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động, lựa chọn được hình thức huy động vốn phong phú để có thể tập trung vốn kịp thời, thoả mãn nhu cầu kinh doanh có hiệu quả. Đảm bảo an toàn trong sử dụng vốn Vốn được coi là tấm đệm chống đỡ những rủi ro, đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh.
Vốn lớn sẽ tạo được uy tín lớn cho ngân hàng trên thị trường, tạo điều kiện mở rộng qui mô và phát triển. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng phải từ 9% trở lên. Nếu tỷ lệ này không đảm bảo, NHTM sẽ không đủ khả năng mở rộng hoạt động, thậm chí còn đứng trước nguy cơ phá sản. Nghiên cứu và sử dụng một CTTC hợp lí sẽ giúp ngân hàng thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra đối với ngân hàng.
Sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, hiệu quả Sử dụng vốn hiệu quả tức là đồng vốn kinh doanh của ngân hàng phải tạo ra lợi nhuận cao. NHTM là tổ chức tài chính trung gian, kinh doanh tiền tệ dựa vào nguồn vốn vay mượn. Để có nguồn vốn kinh doanh, các NHTM bán các quyền sử dụng vốn tiền gửi cho các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Nếu xét ở góc độ chi phí, nghiệp vụ vay mượn vốn kinh doanh làm phát sinh chi phí lớn nhất trong số các khoản mục chi phí hoạt động của ngân hàng và do đó cũng ảnh hưởng sâu sắc đến thu nhập ròng của ngân hàng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu CTTC sẽ đảm bảo ngân hàng luôn có đủ nguồn vốn duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh ở mức độ chi phí có thể đem lại 10 lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt trong toàn bộ quá trình quản trị tài chính ngân hàng. Đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng Khả năng thanh khoản của một ngân hàng là khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng và bù đắp những tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh.