CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. M ột sô vấn đề cơ bản v ề tài chính của ngân hàn g thương m ại 1. K hái niệm và đặc điểm tài chính của N gân hàng thương m ại 1. K h á i n iệ m v ề tà i c h ín h K inh tế chính trị học M ác - Lê nin chỉ rõ, tài chính là phạm trù kinh tế khách quan, nó thuộc về phạm trù phân phối và như m ọi phạm trù kinh tế khách quan khác, tài chính có lịch sử phát sinh, phát triển.
Lịch sử xã hội loài người đã chứng m inh rằng, vào thời kỳ cuối của công xã nguyên thuỷ, khi ch ế độ tư hữu xuất hiện, thì xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp và đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội. Chính sự xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hoá, tiền tệ đã là m ột trong các nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy m ạnh mẽ sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp, trong điều kiện lịch sử đó Nhà nước đã xuất hiện. Khi N hà nước xuất hiện với tư cách là người có quyền lực chính trị, N hà nước đã nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưu thông tiền tệ, qui định hiệu lực pháp lý của đồng tiền và tạo ra m ôi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá tiền tệ, hình thức tiền tệ đã được các chủ thể trong xã hội sử dụng vào việc tham gia phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thông qua các thứ thuế và công trái bằng tiền, để tạo nên các quỹ tiền tệ riêng, quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính N hà nước khác phục vụ cho hoạt động của N hà nước và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, có thể coi sản xuất hàng hoá, tiền tệ và N hà nước là những tiền đề khách quan, quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính. Q uan sát thực tiễn quá trình vận động kinh tế xã hội, có thể nhận thấy, các biểu hiện bên ngoài của tài chính, thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền, và các hiện tượng chi ra bằng tiền của các chủ thể kinh tế xã hội: như dân cư, doanh nghiệp nộp thuế bằng tiền cho N hà nước; các doanh nghiệp sử dụng vốn để m ua sắm vật tư, m áy móc; dân cư m ua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu của các doanh nghiệp, ngân hàng, kho bạc; ngân hàng cho doanh nghiệp 4 vay tiền; dân cư nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội; N hà nước cấp phát tiền từ ngân sách tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện. Các hiện tượng tài chính nêu trên cho thấy, hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính, thể hiện ra như là sự vận động của vốn tiền tệ. Tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, m ột th ế năng về sức m ua nhất định và được gọi là nguồn tài chính.
Trong thực tế nguồn tài chính được gọi với nhiều tên khác nhau như tiền vốn, vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, vốn kinh doanh, vốn tín dụng, vốn ngân sách, vốn trong dân. ở m ỗi chủ thể kinh tế xã hội, khi nguồn tài chính được tập chung lại (thu vào), là khi các quỹ tiền tệ được hình thành (tạo lập) và khi nguồn tài chính được phân tán ra (chia ra), là lúc các quỹ tiền tệ được sử dụng, đó chính là quá trình các chủ thể kinh tế xã hội tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền. N hư vậy, nguồn tài chính là tiền tệ đang vận động với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ, trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ. K hái niệm trên phản ánh đầy đủ, toàn diện về tài chính, nó chỉ ra m ặt cụ thể, hình thức biểu hiện bên ngoài “vật chất” của tài chính, đó là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ.
M ặt khác, vạch rõ m ặt trừu tượng, bản chất bên trong của tài chính, là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính, phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Từ đó cho nhận thức rằng, quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ m ột cách chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả theo các m ục đích đã định. Đồng thời, quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể trên, để tác động có hiệu quả nhất tới việc sử lý các m ối quan hệ kinh tế xã hội nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội. Q uan niệm về tài chính như trên cũng vạch rõ nét khác nhau giữa tài chính với tiền tệ.
Tiền tệ về bản chất là vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hoá với tất cả các chức năng thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ, còn tài chính là sự vận động của tiền tệ chỉ với hai chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ, hơn nữa tính đặc trưng riêng có của tài chính trong phân phối là luôn gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. 5 N hư vậy, các quan hệ tài chính không đồng nhất với các quan hệ tiền tệ nói chung, m à nó chỉ là các quan hệ kinh tế trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ (giá trị) m à thôi. Tài chính cũng như mọi phạm trù kinh tế, là sự trừu tượng hoá về m ặt lý luận của các quan hệ sản xuất nằm trong m ột phương thức sản xuất nhất định, nó phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là m ột bộ phận của các quan hệ phân phối của xã hội, m à các quan hệ phân phối của xã hội là một mặt của quan hệ sản xuất xã hội. M ác chỉ rõ Những ph ạ m trù kinh tê là những biểu hiện lý luận của những quan hệ sản xuất lịch s ử \ Tài chính phản ánh những quan hệ kinh tê nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là một bộ phận của các quan hệ phân phối của xã hội.
Còn các quan hệ phân phối như đã biết, là m ột m ặt của các quan hệ sản xuất xã hội. “C ác quan hệ phân phối, vê bản chất, cũng nhất trí với các quan hệ sản xuất, rằng chúng cấu thành m ặt sau của các quan hệ sản xuất ấy, thành thử cả hai đều có chung m ột tính chất”. Từ đó cho thấy, bản chất của tài chính, các quan hệ về phân phối sản phẩm xã hội, chịu sự ràng buộc bởi bản chất của quan hệ sản xuất xã hội m à đặc trưng cơ bản là các quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất. Trong hoạt động thực tiễn, tài chính là công cụ phân phối sản phẩm xã hội, được tạo ra từ hoạt động sản xuất xã hội.
T rong m ối quan hệ giữa hoạt động tài chính với hoạt động sản xuất và trao đổi, m ột m ặt hoạt động tài chính tất yếu phải dựa vào hoạt động sản xuất, phải lấy việc phục vụ sản xuất làm m ục tiêu chủ yếu, đồng thời các quan hệ phân phối của tài chính phải phục tùng tổng thể các quan hệ sản xuất của xã hội, m à đặc trưng của nó là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; m ặt khác hoạt động tài chính phải có tác dụng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá và các quan hệ phân phối của tài chính, phải có tác dụng tích cực thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội. Từ sự phân tích trên, việc vận dụng các quan hệ tài chính tồn tại khách quan, để quyết định chính xác các chính sách tài chính và thông qua các chính sách tài chính để tổ chức các quan hệ tài chính, nhằm sử dụng tài chính, nhằm tác động tích cực tói các hoạt động và các quan hệ kinh tế xã hội theo phương hướng và m ục tiêu đã xác định. 6 Cơ ch ế quản lý tài chính được thể hiện bằng những quy định, chế độ hay quy ch ế của N hà nước nhằm thực hiện sự quản lý đối với tài chính doanh nghiệp. Hình thức biểu hiện của nó là những văn bản pháp luật, pháp lệnh, Nghị định, Thông tư và những văn bản có liên quan.
Cơ ch ế quản lý tài chính của NHTM cũng được thể hiện bằng những chế độ, quy ch ế của Ban lãnh đạo NHTM , tuy nhiên những quy chế, quy định này phait tuân theo những văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan, không trái pháp luật và là bước cụ thể hoá các cơ chế quản lý của N hà nước đối với các hoạt động kinh doanh của NHTM. T à i c h ín h tr o n g n g â n h à n g th ư ơ n g m ạ i N H TM là m ột tổ chức tài chính trung gian, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả. sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
N hư vậy, N H TM là m ột doanh nghiệp kinh doanh quyền sử dụng hàng hoá tiền tề. N H TM không trực tiếp tham gia SXKD và lưu thông hàng hoá như các doanh nghiệp thông thường mà nó thực hiện các chức năng: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và cung ứng dịch vụ tài chính cho khách hàng. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của NH là: Huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Hoạt động đi vay (m ua vốn) và cho vay (bán vốn) của N H TM để tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất đã làm xuất hiện các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi NH, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong NHTM .