phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của trƣởng phòng, phó trƣởng phòng các CQCM thuộc UBND thành phố thuộc tỉnh. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực quản lý của trƣởng phòng, phó trƣởng phòng các CQCM thuộc UBND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của trƣởng phòng, phó trƣởng phòng các CQCM thuộc UBND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. 10 download by : skknchat@gmail.duong 11 download by : skknchat@gmail.duong CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA TRƢỞNG PHÕNG VÀ PHÓ TRƢỞNG PHÕNG CÁC TP – PTP CÁC CQCM THUCƠ QUAN CHUYÊN MÔN ỘC UBNDTHUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH 1.
Các khái niệm có liên quan đến năng lực quản lý của trƣởng phòng và phó trƣởng phòngP - PTP các cơ quan chuyên môn QCM thuộc Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh 1. Năng lực quản lý và thực thi công việc Năng lực là một thuật ngữ mang tính đa nghĩa. Tùy theo từng trường hợp khác nhau mà thuật ngữ này sử dụng với ý nghĩa khác nhau. Theo Bernard Wynne, “Năng lực là tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích lũy và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc” [27].
Dưới góc độ hành chính học “năng lực” có ba cách tiếp cận sau: “năng lực” là tập hơn ba nhóm yếu tố kiến thức, kỹ năng và hành vi, cách ứng xử một người có và sử dụng để đạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì một người có, biết và làm được để đạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì một người phải có để hoàn thành công việc theo quy định. Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ và các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ. Năng lực của cá nhân bao giờ cũng gắn liền với hoạt động của chính người đó và cả sản phẩm của chính hoạt động ấy. Năng lực cá nhân chỉ hình thành và phát triển trong hoạt động.
Đến lượt nó, kết quả hoạt động lại tùy thuộc và trình độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt động này. Như vậy, tùy theo hoạt động của con người có thể chia thành các loại năng lực khác nhau và năng lực luôn được xác định gắn liền với việc thực thi những loại công việc nhất định như: năng lực để đảm nhận vị trí công việc mang tính chuyên môn; năng lực để đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý. 12 download by : skknchat@gmail.duong Trong tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, năng lực được hiểu mang ý nghĩa tập trung vào thực thi công việc hay gắn với việc thực thi nhiệm vụ mà mỗi một tổ chức có khi thành lập tổ chức đó. Năng lực trong tổ chức thường được quan niệm gắn liền với việc thực thi những loại công việc được giao.
Năng lực đó là năng lực cá nhân hay năng lực thực thi công vụ (không phải quản lý). Chính vì vậy, năng lực của một cá nhân chỉ có ý nghĩa và được xem xét gắn với công việc mà họ được giao thực hiện. Đồng thời, nếu giao đúng người (có những năng lực tương ứng) để làm những công việc với đòi hỏi mức tối thiểu năng lực thì con người có thể làm được công việc đó. Năng lực thực thi công việc được giao luôn gắn với các yếu tố: loại công việc; quy trình thực thi công việc và kết quả.
Dù theo tiếp cận nào, năng lực luôn gắn với cách thức nhìn nhận khả năng thực thi công việc được giao. Do đó, trong tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, năng lực thường được quan niệm là năng lực để thực thi công việc cụ thể giao cho người lao động đó. Năng lực thực thi công việc Năng lực thực thi công việc là khả năng của một cá nhân (người thừa hành, công chức, viên chức hay nhà quản lý) đáp ứng đòi hỏi việc thực thi công việc cụ thể được giao trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định để hoàn thành được công việc đó theo đúng mục tiêu đã vạch ra qua đó thể hiện trình độ, khả năng bao quát và tính sáng tạo của cá nhân đó. Năng lực thực thi công việc chính là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao (năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn).
Để thực thi công việc từng cá nhân các TP - PTP các CQCM thuộc UBND thành phố thuộc tỉnh cần phải có các yếu tố về: kiến thức về trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hiện công việc và cách thức ứng xử, giao tiếp, quan hệ. - Kiến thức về trình độ chuyên môn: tức mức độ am hiểu về công việc cũng như những gì có liên quan đến công việc đó mà bất cứ ai ngồi vào một vị trí nào đó đều cần phải có. Kiến thức được hình thành thông qua quá trình học tập (kiến thức khoa học) và thông qua thực tiễn cuộc sống (kiến thức kinh nghiệm). Bằng cấp trên một phương diện nào đó là một biểu hiện của kiến thức (mức độ hiểu biết trên từng lĩnh vực) mà cá nhân con người có được.
Về nguyên tắc, nhiều nhà quản lý nguồn 13 download by : skknchat@gmail.duong nhân lực chỉ coi bằng cấp như là yếu tố để cho phép nhà quản lý coi đó là tiêu chí hiểu biết, có kiến thức. Đồng thời, kiến thức cũng có thể thông qua đào tạo bổ sung để thay đổi thích ứng theo yêu cầu cao hơn trong thực thi công việc. - Kỹ năng (mức độ thành thạo tối thiểu để làm được công việc) thể hiện đòi hỏi mức độ tối thiểu để có thể làm được công việc đó ở mức mong đợi tối thiểu. Kỹ năng chính là khả năng của một người (không phân biệt mức độ kiến thức, học vấn) có thể làm, thực hiện trôi chảy một công việc cụ thể được trao cho họ.
Thông thường bằng cấp chỉ ra một số yếu tố có thể, nhưng có thể cần phải có thêm kinh nghiệm mới thành thạo để làm được công việc. Kỹ năng của một người có được phải thông qua thực thi các loại công việc, ngoài ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu). Nếu như kiến thức có thể có được thông qua học tập, đào tạo và bồi dưỡng, thì kỹ năng có được phải thông qua thực hành, thông qua hoạt động thực tiễn thực thi công việc hình thành nên. - Hành vi, cách thức ứng xử, giao tiếp, cách quan hệ giữa các bên có liên quan trong quá trình thực thi công việc.
Những biểu hiện về quan hệ, ứng xử, giao tiếp, nói, nghe là những biểu hiện của hành vi. Đồng thời, hành vi của một cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: chịu tác động của môi trường và các bên có liên quan trong quan hệ… và được thể hiện ra bên ngoài thông qua những hoạt động cụ thể. Con người sẽ thành công hay thất bại cũng sẽ phụ thuộc vào hành vi mà chính họ có trong mối quan hệ với các cá nhân khác trong thực thi công việc cũng như trong cuộc sống. Hành vi, cách thức ứng xử, giao tiếp, cách quan hệ được hình thành trong cùng điều kiện với kỹ năng, nhưng đòi hỏi cần phải có nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của nó trong thực thi công việc và yêu cầu cũng như những đòi hỏi về vị trí, việc làm cụ thể.
- Ngoài ra, trong cuộc sống, mỗi người sẽ lựa chọn cho mình một nghề thông thường đơn giản là vì họ thích nghề đó, sở thích nghề nghiệp rất khó giải thích nhưng là một sự tất yếu của sự kết hợp nhiều nhóm yếu tố, trong đó, hai yếu tố kết hợp chặt chẽ với nhau, rất khó giải thích. Bên cạnh đó, cũng có những yếu tố thuộc năng lực mang tính bẩm sinh, khó thay đổi, đặc biệt là yếu tố thứ ba - hành vi. Do đó, khi 14 download by : skknchat@gmail.duong tuyển chọn nhân sự cho những vị trí đòi hỏi có cách ứng xử đặc biệt, cần lựa chọn người có tính cách phù hợp. Ví dụ, nếu đòi hỏi họ phải cẩn thận, trung thực, liêm khiết để giao cho làm ở bộ phận kế toán thì phải chọn người đức tính tốt, liêm chính.
Mối quan hệ giữa con người, công việc và năng lực thể hiện ở Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa con người, công việc và năng lực Bên cạnh đó, giữa thực thi công việc và năng lực cá nhân có các yêu cầu ràng buộc nhau như: mỗi một loại công việc đòi hỏi những yêu cầu khác nhau để thực thi công việc đó và mỗi một người có năng lực khác nhau trên từng lĩnh vực, từng nhóm công việc và cụ thể từng công việc. Sự phù hợp của năng lực cá nhân với đòi hỏi tối thiểu để thực thi công việc được giao là điều kiện tiên quyết của bố trí sử dụng nhân sự trong tổ chức. Trong khu vực nhà nước, việc quy định các tiêu chuẩn để có thể đảm nhận vị trí, công việc hoặc chức nghiệp thường quan tâm nhiều đến những tiêu chuẩn mang tính chính trị, pháp lý để có thể được tuyển vào cơ quan nhà nước hơn là tiêu chuẩn mang tính năng lực thực thi công việc. Đó cũng là, điều mà chúng ta cần quan tâm để có thể kết hợp cả tiêu chuẩn chính trị, pháp lý lẫn phải có năng lực tương ứng với loại công việc cụ thể, chuyên môn cụ thể được giao.
Năng lực quản lý Những nhà lãnh đạo, nhà quản lý, bên cạnh năng lực chuyên môn – nghiệp vụ cần thiết của mỗi cá nhân, đòi hỏi phải có năng lực lãnh đạo, quản lý. Theo giáo trình Hành chính công (Dùng cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy sau đại học) Nxb Khoa học và Kỹ thuật năm 2003 đã định nghĩa quản lý là: “Tiến 15 download by : skknchat@gmail.duong trình, hoạt động hoặc giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức - đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nỗ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó” [22, tr 09]. Theo cách tiếp cận này nhà quản lý đạt được mục tiêu của tổ chức thông qua việc phối hợp các nguồn lực.