CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và lợi thế về cạnh tranh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là khái niệm rất bao hàm, rộng, xuất hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ sinh hoạt hàng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… và có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Ở góc độ đơn giản hơn thì “Cạnh tranh” trên thị trường là quá trình nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức, biện pháp khác nhau.
Theo Từ điển Kinh doanh xuất bản ở Anh năm 1992 được hiểu là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển “Bách khoa tri thức phổ thông” cũng định nghĩa cạnh tranh theo nghĩa kinh tế là Hoạt động tranh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, thương nhân và các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Trong khoa học kinh tế cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích ngày càng có nhiều khách hàng. Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng và mua hàng với nhau nhưng chủ yếu là giữa những người bán hàng với nhau.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo Michael Porter (1990), năng lực cạnh tranh đề cập đến khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm chất lượng và năng suất vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như khả năng phát triển bền vững cho doanh nghiệp và tạo ra thu nhập lớn cho người lao động. Michael Porter cũng nhận định năng suất lao động là thước đo duy nhất để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 5 Theo Aldington Report (1980), doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh có thể sản xuất hàng hóa, dịch vụ với chất lượng vượt trội với mức giá cạnh tranh hơn so với đối thủ cạnh tranh trong nước và nước ngoài.
Năng lực cạnh tranh sẽ mang lợi ích lâu dài và khả năng đảm bảo thu nhập cho chủ và người lao động. Theo Van Duren, Martin và Westgren cũng nhận định năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phẩn của thị trường trong và ngoài nước. Họ cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được xác định dựa trên các chỉ số đánh giá năng lực bao gồm: năng suất lao động, chi phí đầu vào, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, công nghệ, chi phí nghiên cứu, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm. Từ đó rút ra kết luận về khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực giới hạn để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, tạo lập vị thế cạnh tranh trước các đối thủ và mở rộng mạng lưới tiêu thụ.
Từ đó chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp cả trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi. Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh đề cập đến các yếu tố cho phép doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ tốt và rẻ hơn so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Từ những yếu tố này cho phép đơn vị sản xuất tạo ra nhiều doanh thu hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Lợi thế cạnh tranh làm cho sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng mong muốn hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác.
Lợi thế cạnh tranh có thể được chia thành lợi thế so sánh và lợi thế khác biệt. Lợi thế so sánh là khả năng của doanh nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm hiệu quả hơn đối thủ, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận lớn hơn. Lợi thế khác biệt là khi sản phẩm của doanh nghiệp vừa độc đáo, vừa có chất lượng cao hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh làm cho hàng hóa của doanh nghiệp vượt trội hơn tất cả lựa chọn khác của khách hàng Để tạo ra lợi thế cạnh tranh, một doanh nghiệp phải cung cấp lợi ích rõ ràng 6 cho thị trường mục tiêu của mình, lợi ích tốt hơn những gì đối thủ cạnh tranh mang lại. Chủ doanh nghiệp cũng cần cập nhật những xu hướng mới ảnh hưởng đến sản phẩm, bao gồm bất cứ công nghệ mới nào.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất là xác định đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp. Chúng cũng bao gồm những thứ mà bạn có thể đáp ứng khách hàng. Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những nhân tố thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Nó buộc nhà sản xuất, nhà kinh doanh phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng thích ứng cao với thị trường bởi vì thị trường rất đa dạng và thường xuyên biến động. Để thích ứng được với xu thế biến động này doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh do: - Cạnh tranh giúp doanh nghiệp phát triển hơn, các doanh nghiệp sẽ phải tự tìm cho mình các biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi cách tối ưu hóa sản phẩm sản xuất kinh doanh, sáng tạo, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nắm bắt thông tin nhanh, kịp thời nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh tranh. - Ngoài ra, cạnh tranh tạo sức ép giữa cá doanh nghiệp, nó quyết định tới vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Các doanh nghiệp có ưu thế trong cạnh tranh sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. - Khi tiến hành cạnh tranh các doanh nghiệp xác định được điểm mạnh, điểm yếu của mình và của đối thủ từ đó có biện pháp khắc phục, xây dựng được cho mình chiến lược để phù hợp với môi trường kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn 7 được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay. Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường. Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện ngay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp.
Bởi lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như là một chiến lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia. Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 8 1.Thị phần Tiêu chí này gồm 02 thành phần là thị phần và tốc độ tăng thị phần của doanh nghiệp - Thị phần: Doanh nghiệp nào có thị phần lớn hơn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó cũng lớn hơn. Tiêu chí này thường được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
- Tốc độ tăng thị phần của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi đầu ra của doanh nghiệp theo thời gian. Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định: Thị phần của doanh nghiệp = Doanh thu của doanh nghiệp /Tổng doanh thu toàn ngành Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng.
Thông qua sự biến động của chỉ tiên này ta có thể đánh giá mức độ hoạt độngcủa doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với các đối thủ trong ngành. Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ ta còn dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỉ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ.
Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và xác thực của đối thủ. Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị phần là tiêu chí quan trọng trong việc đánh 9 giá năng lực cạnh tranh.