Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ NĂNG Lực PHÂN TÍCH RỦI RO KINH TÊ NGÀNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro và phân tích rủi ro kinh tê ngành của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro kinh tế ngành Kỉnh tế ngành là một bộ phận của nền kinh tế chuyên tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Trong nền kinh tế có rất nhiều ngành kinh tế, việc phân loại ngành kinh tế xuất phát từ tích chất phân công lao động xã hội, sự khác nhau trong qui trình, đặc điểm hoạt động kinh tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ khác nhau.
Trong nền kinh tể phong kiến, cơ cấu nền kinh tế còn nghèo nàn, các hoạt động kinh tế ở quy mô nhỏ, manh mún. Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và thương mại. Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho đến ngày nay với sự trợ giúp bởi tiến bộ công nghệ. Các quốc gia, các nền kinh tế và các ngành kinh tế của các quốc gia đó đan xen, liên kết, tương tác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết tường tận nếu chỉ nghiên cứu sơ sài.
Lịch sử phát triển của nền kinh tế quốc dân đã khẳng định có ba hình thức phân công lao động xã hội: + Phân công chung: Là chia nền kinh tế thành những ngành kinh tế lớn như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông, thương m ại,. đó là ngành kinh tế cấp I. 5 + Phân công đặc thù: Diễn ra trong các ngành kinh tế lớn ( cấp I ). Phân công lao động xã hội phát triển, các ngành kinh tế cấp I lại tiếp tục phân chia thành những ngành sản xuất kinh doanh hẹp hơn, hình thành hệ thống các ngành cấp n , rồi các ngành cấp II lại phân chia thành các ngành chuyên môn hoá hẹp hơn- các ngành cấp ru.
Chẳng hạn, ngành nông nghiệp chia thành hai ngành: trồng trọt và chăn nuôi. Trong ngành trồng trọt lại phân tiếp thành ngành trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp. Trong ngành chăn nuôi chia thành chăn nuôi trâu bò, lợn, gia cầm. Trong từng ngành (cây lương thực, cây ăn quả .) lại tiếp tục phân thành ngành hẹp hơn như ngành trồng lúa, cà phê, mía đường.
+ Phân công cá biệt: Được diễn ra trong nội bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh. Hình thức phân công này không hình thành các ngành nhưng nó lại hình thành các bộ phận chuyên môn hoá (các đội, tổ, phân xưởng) hoặc các bộ phận đó có thể tách ra thành các đơn vị kinh doanh độc lập [10]. Dưới sự tác động của phân công lao động xã hội, nền kinh tế của mỗi nước đã hình thành một hệ thống kinh tế ngày càng phức tạp, bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cấu thành, giữa chúng hình thành hệ thống mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong đó, mỗi ngành kinh tế có vị trí khác nhau, thực hiện chức năng khác nhau đối với sự phát triển đất nước.
Một xu hướng gần đây là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế khi các quốc gia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp. Điều này thể hiện ở sự tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ trong khi tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm xuống, và sự phát triển của nền kinh tế thông tin, còn gọi là cuộc cách mạng thông tin. 6 Ngoài ra, một cách định nghĩa khác về ngành kinh tế là một nhóm những công ty chào bán một sản phẩm hay một lớp sản phẩm có thể hoàn toàn thay thế nhau được. Các nhà kinh tế định nghĩa những sản phẩm hoàn toàn thay thế nhau là những sản phẩm có nhu cầu co giãn lẫn nhau lớn.
Nếu giá của một sản phẩm tăng lên và làm cho nhu cầu đối với sản phẩm khác cũng tăng lên, thì hai sản phẩm đó là hoàn toàn thay thế nhau được. Nếu giá xe ôtô Nhật tăng thì người ta sẽ chuyển sang xe Mỹ, hai loại xe này hoàn toàn thay thế nhau. Mỗi một ngành kinh tế có đặc điểm riêng, đối với ngành sản xuất nông nghiệp có đối tượng là những sinh vật, động vật (cây trồng, vật nuôi) chúng sinh trưởng và phát triển theo qui luật sinh vật riêng và chịu sự chi phối của qui luật tự nhiên. Nhận thức được đặc điểm này giúp ta có biện pháp phân vùng, qui hoạch sản xuất, bố trí cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế thế mạnh của từng vùng, từng địa phương cũng như từng cơ sở sản xuất.
Thứ hai, chu kỳ sản xuất nông nghiệp nói chung là dài và không giống nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi nên đòi hỏi khi xây dựng kế hoạch đầu tư ( vườn cây lâu năm, chăn nuôi gia súc .), kế hoạch sản xuất kinh doanh phải phù hợp với với chu kỳ sản xuất, chu kỳ kinh doanh của từng loại cây trồng vật nuôi. Thứ ba, ngành nông nghiệp mang tính thời vụ rất lớn [10]. Từ các đặc điểm trên, ta có thể thấy rằng rủi ro đối với ngành nông nghiệp là rất lớn do thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, do biến động giá nông sản,. - Khái niệm rủi ro kinh tế ngành: Rủi ro kinh tế ngành là sự mất mát và hao phí về nguồn lực, sản phẩm, dịch vụ đối với các đơn vị tạo ra/kinh doanh sản phẩm dịch vụ.
Trong một nền kinh tế có nhiều ngành kinh tế, mỗi ngành có một vai trò nhất định và có đặc điểm hoạt động riêng, các ngành kinh tế có mối liên quan với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Sản phẩm, dịch vụ của 7 ngành này là chí phí đầu vào của ngành khác. Do vậy, rủi ro của mỗi ngành sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành khác. Rủi ro kinh tế ngành chịu sự tác động bởi các yếu tố sau: Kinh tế vĩ mô; môi trường; nguồn lực; chất lượng quản lý; tài chính; pháp lý.
Các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro kinh tế ngành là: Chính sách đối với ngành kinh tế; thiên tai bất khả kháng, biến động của thị trường, công nghệ, trình độ lao động, trình độ quản lý,. Ngoài ra, rủi ro kinh tế ngành còn được hiểu là những rủi ro liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và một nhóm doanh nghiệp trong ngành đó. Cụ thể, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau quyết liệt để sản xuất sản phẩm cung cấp cho thị trường, đến một lúc nào đó các sản phẩm trên thị trường có cung lớn hơn cầu và dẫn đến khủng hoảng thừa, các doanh nghiệp sẽ chịu rủi ro về hàng hoá, hay rủi ro về giá. Người ta nói, ngành kinh tế đó đang có rủi ro, các doanh nghiệp khi tham gia vào ngành sẽ bị ảnh hưởng của rủi ro.
Vai trò của phân tích rủi ro kinh tế ngành - Mục tiêu của phân tích rủi ro kinh tế ngành: Là đánh giá mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của một ngành kinh tế để làm căn cứ cho việc xây dựng hạn mức rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro túi dụng tốt hơn của ngân hàng. - Mối quan hệ giữa phân tích rủi ro kinh tế ngành với rủi ro tín dụng: Rủi ro kinh tế ngành có ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng. Để hiểu được mối quan hệ này trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là rủi ro túi dụng. Đó là những rủi ro mà khách hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn theo thoả thuận trong họp đồng tín dụng, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Rủi ro tín dụng là một 8 loại rủi ro rất nguy hiểm, bởi một khi vài khách hàng quan trọng không trả được nợ có thể gây nên các khoản lỗ lớn cho ngân hàng và có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, trong hoạt động tín dụng, ngoài việc phân tích các yếu tố cơ bản trong quá trình quyết định cho vay để đảm bảo cho một khoản vay tốt như tính cách của người vay, năng lực, dòng tiền mặt, tài sản thế chấp thì cán bộ ngân hàng phải có trình độ phân tích yếu tố liên quan đến kinh tế ngành, đó là xem xét “vị thế hiện thời của khách hàng trong ngành và thị phần dự tính; so sánh tình hình hoạt động của khách hàng với khách hàng khác có cùng qui mô trong ngành; môi trường cạnh tranh đối với sản phẩm của khách hàng; sự nhậy cảm của khách hàng, của ngành đối với chu kỳ kinh doanh và sự thay đổi trong công nghệ; điều kiện lao động trong ngành hay trong thị trường lao động của khách hàng; tác động của lạm phát đối với cân đối kế toán và dòng tiền của khách hàng; triển vọng của khách hàng, của ngành trong dài hạn; môi trường và các nhân tố chính trị, pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động, công việc của khách hàng hay của ngành kinh tế đó” [17]. Ngoài ra chúng ta phải phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro: nhóm dấu hiệu về rủi ro cơ cấu, chiến lược, hoạt động; nhóm dấu hiệu qua thông tin tài chính ; nhóm dấu hiệu thông qua thông tin bên ngoài; nhóm dấu hiệu rủi ro về ngành kinh tế [22]. Thực tế có rất nhiều dấu hiệu liên quan đến rủi ro tín dụng, tuy nhiên, trong nội dung luận văn này muốn nhấn mạnh nhóm dấu hiệu rủi ro kinh tế ngành liên quan đến rủi ro tín dụng ngân hàng.
Rủi ro kinh tế ngành sẽ tác động tới rủi ro tín dụng thông qua hoạt động của doanh nghiệp/khách hàng và hoạt động cho vay của ngân hàng. Doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi xu thế phát triển của ngành, khi ngành kinh tế có xu hướng đi xuống (như trì trệ, không phát triển do công nghệ lạc hậu, cung vượt 9 quá nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, thiên tai bất khả kháng.) nếu không xác định được dấu hiệu rủi ro của ngành kinh tế thì sẽ có thể dẫn đến rủi ro tín dụng trong quá trình đầu tư. Một khoản vay dường như rất tốt trên giấy tờ nhưng có thể giá trị bị sụt giảm do doanh thu hay thu nhập của khách hàng giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc do lãi suất tăng cao trước sức áp của lạm phát.