Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiền cứu 1. Tình hình nghiên câu về kỹ năng, kỹ năng sư phạm và kỹ năng hoạt động giáo dục Vấn để kỹ năng, quá trình hình thành kỹ năng ở cấp độ đại cương từ lâu đã được khá nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu: các tác giả Xô viết như: P.
các tác giả Việt Nam: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [26], Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy [23], Phạm Viết Vượng [43],. Trong các công trình nghiên cứu của mình các nhà Tâm lý học và Giáo dục học đã đưa ra khá nhiều quan niệm về kỹ năng, tựu trung có hai loại quan niệm chủ yếu sau: Quan niệm thứ nhất: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động. Đại diện cho quan điểm này có các tác giả như: V. Các tác giả thống nhất: kỹ năng là cách thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động mà con người đã nấm vững.
Con người lĩnh hội được cách thức hành động tức là có kỹ thuật hành động. Khi nắm được kỹ thuật hành động. hành động đúng các yêu cầu của nó sẽ có kết quả. Quan niệm thứ hai: xem xét kỹ nang nghiêng về góc độ năng lực của con người.
Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: N. Nguyễn Anh Tuyết [40],. Họ cho rằng: kỹ năng là khả năng, năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình (đúng cách thức). Kỹ năng với tư cách là khả năng (trình độ được chuẩn bị) để thực hiện một hoạt động nào đó dựa trên những tri thức, kỹ xảo và được hoàn thiện lên cùng với chúng.
Kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cẩn thiết và với thời gian tương ứng không những trong những diéu kiện quen thuộc nhất định mà còn trong những diéu kiện mới. Như vậy, ở quan niệm thứ hai, các tác giả không chỉ xem kỹ năng đơn thuần là kỹ thuật hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người. Khi xem xét quá trình hình thành kỹ năng, hấu hết các tác giả déu nhấn mạnh điều kiện hình thành kỹ năng là các tri thức và kinh nghiệm đã có do thực hiện các hành động tương tự trước đó mang lại. Đây là điểu kiện cẩn thiết để hình thành kỹ năng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động.
Do vậy, muốn hình thành kỹ năng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó trước hết phải cung cấp các tri thức vé hành động đó cho người học đồng thời tổ chức các hoạt động cho người học vận dụng các tri thức đã học vào thực hành. Con đường hình thành kỹ năng là thông qua rèn luyện và bằng luyện tập. Đặcbiệt, các nhà Giáo dục học còn chú trọng đến sự hình thành kỹ năng ở học sinh với tư cách là một trong những mục đích của dạy học. Dạy học không chỉ trang bị cho học sinh vốn tri thức mà cả kỹ năng và kỹ xảo.
"Những kiến thức được nấm vững một cách tự giác sẽ trở thành vũ khí của tư duy và hoạt động của học sinh, ở mức độ rất đáng kể là do có tích luỹ thêm kỹ năng và kỹ xảo. Nội dung của lý thuyết được thấm nhuẫn sâu sắc bao giờ cũng tìm đường đi vào ứng dụng, diéu này chỉ có thể xảy ra nếu kiến thức làm nảy sinh kỹ năng, chuyển biến thành kỹ năng" (12, tr34]. Nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu những kỹ năng sư phạm phục vụ cho việc đào tạo giáo viên. Abdullina có chuyên khảo bàn về kỹ năng sư phạm [1].
Ở đây, tác giả nêu rõ từng loại kỹ năng sư phạm của người giáo viên theo các chức năng đặc trưng và phân tích tỉ mỉ những kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt. Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình đi trước và tiến hành thực nghiệm hình thành các kỹ năng ở sinh viên sư phạm, tác giả X. Kixegof đã phân tích khá sâu sắc vấn để hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm cho sinh viên sư phạm [20]. Ngoài ra trong các tài liệu Tâm lý học sư phạm, các tác giả như: N.
Gonobolin [13], cũng bàn đến các kỹ năng sư phạm của người giáo viên. Petrovxki đưa ra hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm như sau: - Những kỹ năng và kỹ xảo thông tin - Những kỹ năng và kỹ xảo động viên - Những kỹ năng và kỹ xảo phát triển - _ Những kỹ năng và kỹ xảo định hướng - __ Những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động xây đựng - — Những kỹ năng và kỹ xảo tổ chức - Những kỹ năng và kỹ xảo giao tiếp - Những kỹ năng và kỹ xảo nghiên cứu,. Petrovxki, ngay trong quá trình đào tạo nghiệp vụ ở trường đại học sư phạm, giáo sinh phải nắm vững những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động sư phạm trên. 6 Việt Nam, các nhà Tâm lý học và Giáo dục hoc như: Dang Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Như An, Nguyễn Ngọc Bảo,.
cũng đã bàn đến vai trò của kỹ năng sư phạm trong năng lực sư phạm và trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên. Các tác giả đã phân loại hệ thống kỹ năng sư phạm nhằm giúp cho việc hình thành các kỹ năng này trong quá trình đào tạo giáo viên. Bàn về kỹ năng sư phạm, các tác giả đều nhìn nhận hoạt động sư phạm là hoạt động hết sức phức tạp và đa dạng vì nó có đối tượng là con người. Vì vậy, hoạt động sư phạm một mặt đòi hỏi tính nghiêm túc, mặt khác đòi hỏi tính mềm dẻo, linh hoạt ở mức độ cao.
Vấn để hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên không thể hành động theo một khuôn mẫu cứng nhấc, không thể đơn giản như việc hình thành kỹ năng các hoạt động khác. Các tác giả cũng thống nhất quan niệm: Kỹ năng hoạt động giáo dục là một kỹ năng thành phần trong hệ thống kỹ năng sư phạm của người giáo viên. Cho nên, khi nghiên cứu về KNHĐGD, các tác giả đã phân tích kỹ năng hoạt động giáo dục bao gồm những kỹ năng cụ thể như: KN tìm hiểu đối tượng; KN lập kế hoạch giáo dục, kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp; KN phân tích đánh giá các hiện tượng giáo dục; KN tổ chức lớp thành một tập thể đoàn kết, nhất trí; KN tổ chức HĐGD tập thể, hoạt động chính trị, xã hội; KN giáo dục cá biệt; KN tự giáo dục, tự phê bình; KN đánh giá đạo đức học sinh. Hệ thống KNHĐGD mà các tác giả đưa ra chưa có sự thống nhất về tên gọi, hãy còn sơ sài, chưa thật sự chỉ tiết và cụ thể.
Đặc biệt chưa có tác giả nào đưa ra một qui trình rèn luyện cụ thể loại kỹ năng này cho sinh viên sư phạm. Tình hình nghiên cứu việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông Việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông đã được các tác giả Liên Xô (cũ) bàn tới vào những năm 70 và thể hiện trong tác phẩm dịch: “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông” [7]. Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu, phân tích cả vé mặt lý luận và tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông, có tác dụng thiết thực đối với cán bộ và sinh viên các trường sư phạm. Các nhà nghiên cứu và giảng dạy có tên tuổi ở các trường đại học sư phạm và tổng hợp Xô Viết như: N.
đã đưa ra nhận định rằng: trong giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay, những yêu cẩu đối với người giáo viên được nâng cao. Người giáo viên không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức sâu sắc, toàn diện mà còn bổi dưỡng cho họ những cơ sở của thế giới quan khoa học, hình thành những phẩm chất đạo đức và hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Thực tiễn việc chuẩn bị nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm cho thấy, sinh viên chủ yếu được chuẩn bị vé công tác đạy học, còn công tác giáo dục chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng. Vì vậy, để chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo duc ở trường phổ thông, cẩn sử dụng tối da tất cả các khả năng đã có ở trường sư phạm để đào tạo giáo viên.
Những vấn để chủ yếu mà các tác giả để cập tới trong việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục là: - — “Những cơ sở của việc chuẩn bị cho sinh viên đại học sư phạm làm công tác giáo dục”. - — "Hình thành cho sinh viên những kỹ năng sư phạm trong việc tổ chức công tác giáo dục học sinh”. - — “Việc chuẩn bị vé mặt tâm lý cho sinh viên làm công tác phụ huynh học sinh”. - — “Về việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước - anh hùng cho học sinh”.
- “Việc chuẩn bị cho sinh viên làm công tác với trẻ em “khó giáo dục". Ở Việt Nam nhiều tác giả cũng quan tâm nghiên cứu vấn để chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục. Hiện nay có khá nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo hướng dẫn và chuẩn bị cho sinh viên sư phạm những tri thức, kỹ năng cần thiết của hoạt động giáo dục, góp phần tháo gỡ những ling túng cho sinh viên sư phạm trong công tác giáo dục sau này. Công trình nghiên cứu “Thực tập sư phạm” của Nguyễn Đình Chỉnh -Nxb Giáo dục, 1991 có để cập đến một số kỹ năng cẩn hình thành và củng cố cho sinh viên trong khi tiến hành thực tập sư phạm.
Trong cuốn “Thyc hành về Giáo dục học” — tài liệu cốt lõi ding cho sinh viên các trường Cao đẳng và Đại học sư phạm, tác giả còn đưa ra quy trình rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống giáo dục cho sinh viên sư phạm. Tác giả Hà Nhật Thăng và cộng sự đã có một số công trình nghiên cứu về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp như: “Tổ chức hoạt động giáo dục”, Hà Nội 1995; “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục”, Nxb Giáo dục 1998; “Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2001,.