Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch tỉnh An Giang ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô du khách khi đón hơn 5,5 triệu lượt khách vào năm 2011, chiếm 32% tổng lượt khách của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, nguồn thu từ du lịch của tỉnh trong cùng năm chỉ chiếm khoảng 7% tổng doanh thu du lịch toàn vùng, phản ánh nghịch lý lớn về hiệu quả kinh tế. Vấn đề cốt lõi của du lịch An Giang là sự phụ thuộc nặng nề vào phân khúc du lịch tâm linh giá rẻ với tính mùa vụ cao, tiêu biểu là Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam thu hút hơn 3 triệu lượt khách mỗi năm (chiếm 70% tổng lượng khách toàn tỉnh) nhưng không tạo ra nhiều giá trị gia tăng.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh của ngành du lịch tỉnh An Giang thông qua cách tiếp cận cụm ngành, từ đó xác định các điểm nghẽn về cấu trúc, liên kết chuỗi giá trị và cơ chế quản trị. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào địa bàn tỉnh An Giang trong mối tương quan so sánh với các trung tâm du lịch lân cận như Cần Thơ, Tây Ninh, Kiên Giang và Tiền Giang, với chuỗi dữ liệu thứ cấp kéo dài từ năm 2000 đến năm 2011 cùng các quy hoạch phát triển đến năm 2020.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để chính quyền địa phương tái cơ cấu vốn đầu tư công, điển hình là việc thẩm định dự án sân bay quy mô 4.000 tỷ đồng, đồng thời định hình giải pháp nâng cao thời gian lưu trú bình quân vốn chỉ ở mức 1,05 ngày và cải thiện mức chi tiêu của du khách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cụm ngành của Michael E. Porter (1998) nhằm phân tích sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, tổ chức và định chế liên kết trong hoạt động du lịch. Mô hình Kim cương (Diamond Model - Porter, 1990) được sử dụng làm khung phân tích cốt lõi với bốn đỉnh tương tác: điều kiện các yếu tố sản xuất đầu vào, điều kiện cầu nội địa, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, cùng bối cảnh chiến lược và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành. Bên cạnh đó, tác giả tích hợp khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương do Vũ Thành Tự Anh và cộng sự (2011) hiệu chỉnh, bao gồm ba tầng bậc: yếu tố tài nguyên thiên nhiên sẵn có, năng lực cạnh tranh cấp vùng và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp.

Các khái niệm chính được định hình rõ nét gồm: cụm ngành du lịch, ngoại tác tĩnh và động (Ferreira và Estevão, 2009), năng lực cạnh tranh điểm đến (Dwyer và Kim, 2003), thang bậc phát triển cụm ngành (McRae-Williams, 2002) phân loại từ cụm ngành sơ khai đến cụm ngành vận hành hiệu quả, cùng sự phân định giữa du lịch tâm linh và du lịch di sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp đa nguồn. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê tỉnh An Giang (2000 - 2011), Báo cáo Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (MDTA 2012), Khảo sát Chi tiêu Du lịch năm 2009 của Tổng cục Thống kê và Báo cáo Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 15 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các đối tượng đại diện chủ chốt: lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (ATIPC), Hiệp hội Du lịch, lãnh đạo doanh nghiệp đầu ngành như Công ty Cổ phần Du lịch An Giang (Angiang Tourimex) và các chuyên gia kinh tế thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) nhằm tiếp cận đúng những cá nhân có hiểu biết sâu sắc về chính sách và thực tiễn vận hành cụm ngành. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích cụm ngành kết hợp đối sánh là vì các mối liên kết dọc và ngang trong ngành du lịch mang tính phi thị trường và phụ thuộc nhiều vào thể chế, đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều mà các mô hình kinh tế lượng đơn lẻ khó bao quát hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thị trường du lịch An Giang bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi phụ thuộc vào dòng khách tâm linh có mức chi tiêu rất thấp. Số liệu khảo sát năm 2009 chỉ ra rằng chi tiêu bình quân ngày của khách nội địa tại An Giang chỉ đạt khoảng 200.000 đồng/ngày, bằng một phần ba mức chi tiêu tại Thành phố Hồ Chí Minh (1.072.000 đồng/ngày) và chưa bằng một nửa tại Cần Thơ. Thời gian lưu trú bình quân tại các cơ sở lưu trú chỉ đạt 1,05 ngày/khách. Đáng chú ý, có tới 99,3% khách nội địa tự tổ chức chuyến đi và chỉ có 0,7% du khách sử dụng tour trọn gói, khiến chuỗi dịch vụ lữ hành không phát huy được giá trị gia tăng. Doanh thu từ khối khách sạn và nhà hàng năm 2010 đạt 1.628 tỷ đồng (chiếm khoảng 10% tổng thu ngân sách tỉnh), tăng từ mức 345 tỷ đồng năm 2000 nhưng chưa tương xứng với tiềm năng.

Thứ hai, định hướng đầu tư hạ tầng công bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, thiếu hiệu quả kinh tế. Điển hình là đề án xây dựng sân bay An Giang cấp 3C theo chuẩn ICAO với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.000 tỷ đồng nhằm thu hút khách cao cấp. Trong khi đó, sân bay quốc tế Cần Thơ chỉ cách Long Xuyên 60 km cùng các sân bay Rạch Giá, Cà Mau đều đang vận hành ở mức 10% đến 30% công suất thiết kế và chịu lỗ hàng tỷ đồng mỗi tháng. Điểm nghẽn giao thông thực tế gây cản trở lớn nhất lại là tình trạng ùn tắc tại Phà Vàm Cống với lưu lượng 4.000 lượt xe/ngày thường và tăng 150% trong dịp lễ hội, gây tắc nghẽn kéo dài tới 7 km trên Quốc lộ 91.

Thứ ba, năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp rất phân mảnh và thiếu vắng sự hợp tác. Năm 2009, toàn tỉnh có 1.769 doanh nghiệp đăng ký, trong đó hơn 70% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng và 95% có dưới 50 lao động. Toàn tỉnh năm 2011 chỉ có 83 khách sạn (với vỏn vẹn 2 khách sạn 4 sao quy mô khoảng 60 phòng/khách sạn) và hơn 200 nhà nghỉ tự phát. Lượng khách quốc tế năm 2011 chỉ đạt khoảng 51.000 lượt, tụt hậu xa so với Tiền Giang (trên 500.000 lượt) và Kiên Giang.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  SO SÁNH HIỆU QUẢ CỤM NGÀNH DU LỊCH 2011                |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Chỉ số so sánh       | An Giang           | Toàn vùng ĐBSCL             |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Tỷ trọng lượt khách  | 32% (~5,5 triệu)   | 100% (~17,2 triệu)          |
| Tỷ trọng doanh thu   | 7%                 | 100%                        |
| Thời gian lưu trú TB | 1,05 ngày/khách    | 1,8 - 2,2 ngày (toàn vùng)  |
| Khách quốc tế        | 51.000 lượt        | Hơn 1,6 triệu lượt          |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+

Thảo luận kết quả

Khi thể hiện dữ liệu qua biểu đồ so sánh cơ cấu thị phần khách và thị phần doanh thu năm 2011, sự chênh lệch giữa cột lượng khách (32%) và cột doanh thu (7%) làm nổi bật sự thiếu hụt nghiêm trọng các dịch vụ bổ trợ có giá trị gia tăng cao. Đồ thị diễn biến chi tiêu bình quân của du khách theo giá cố định giai đoạn 2000 - 2010 cho thấy xu hướng đi ngang và giảm dần, phản ánh tình trạng sản phẩm du lịch đơn điệu, hàng lưu niệm nghèo nàn và trùng lặp với các địa phương khác trong vùng.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này xuất phát từ việc các doanh nghiệp trong cụm ngành chỉ cạnh tranh cục bộ dựa trên giá bán thay vì nâng cao chất lượng dịch vụ. Tâm lý du khách coi An Giang là điểm hành hương ngắn hạn khiến các đơn vị kinh doanh không có động lực đầu tư phòng ốc hay chuẩn hóa dịch vụ ăn uống. So chiếu với thang bậc phát triển cụm ngành của McRae-Williams, cụm du lịch An Giang hiện mới dừng ở mức cụm ngành tiềm năng (Potential) hoặc cụm ngành do chính sách thúc đẩy thiếu thực chất (Policy-driven), thiếu hẳn các liên kết cộng sinh giữa đơn vị lữ hành, cơ sở lưu trú và cơ quan quản lý văn hóa. Tình trạng mất an ninh trật tự, chèo kéo và sự cố sạt lở tại Núi Cấm năm 2012 làm 6 người thiệt mạng càng khiến hình ảnh điểm đến suy giảm trong mắt phân khúc khách hàng chi trả cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục đầu tư công trong lĩnh vực hạ tầng giao thông. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cần dừng hoặc hoãn vô thời hạn dự án sân bay An Giang trị giá 4.000 tỷ đồng; tập trung toàn bộ nguồn lực và vốn đối ứng phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải hoàn thành dự án Cầu Vàm Cống (sử dụng vốn vay 200 triệu USD từ Hàn Quốc) cùng tuyến đường nối Quốc lộ 91 trong giai đoạn 2013 - 2016, nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống dưới 3,5 giờ.

Thứ hai, chuyển dịch định hướng chiến lược từ du lịch tâm linh đại trà sang phát triển du lịch di sản - văn hóa sinh thái. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang cần chủ trì xây dựng các tuyến du lịch di sản chuyên sâu kết nối Khu di chỉ khảo cổ Óc Eo (Thoại Sơn), làng Chăm Châu Phong (Tân Châu), cụm chùa Khmer Bảy Núi và Lễ hội Đua bò Chùa Rô (Tịnh Biên, Tri Tôn). Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng khách quốc tế đạt 150.000 lượt vào năm 2020 và kéo dài thời gian lưu trú bình quân lên mức 2,2 ngày.

Thứ ba, nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực du lịch thông qua liên kết đào tạo bài bản. Trường Đại học An Giang cần tái cấu trúc khoa Văn hóa Nghệ thuật, nâng cấp chương trình Việt Nam học thành chuyên ngành Quản trị Khách sạn và Lữ hành chuẩn hóa với quy mô đào tạo trên 200 cử nhân/năm từ năm 2014; đồng thời phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ bắt buộc cho 100% nhân viên tại 83 khách sạn và hơn 200 nhà nghỉ trên địa bàn.

Thứ tư, thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Du lịch An Giang nhằm xây dựng quy tắc liên kết cụm ngành. Cơ quan này sẽ đóng vai trò điều phối dữ liệu khách hàng, ngăn chặn hành vi phá giá dịch vụ mùa thấp điểm, thiết lập chuỗi cung ứng ẩm thực an toàn vệ sinh và phát triển các dòng sản phẩm quà tặng đặc thù của vùng Thất Sơn trong giai đoạn 2013 - 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Luận văn cung cấp phương pháp luận thực chứng để rà soát quy hoạch phát triển kinh tế, thẩm định tính khả thi của các dự án đầu tư công quy mô lớn và tối ưu hóa ngân sách địa phương.

Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư và ban lãnh đạo doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, dịch vụ giải trí. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận diện cấu trúc thị trường, vượt qua bẫy cạnh tranh giá rẻ và nắm bắt cơ hội thương mại hóa các sản phẩm du lịch di sản - sinh thái cao cấp.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia nghiên cứu kinh tế, quy hoạch vùng và các tổ chức phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu đóng vai trò là một case study điển hình về việc áp dụng mô hình Cụm ngành Porter và Mô hình Kim cương vào thực tế địa phương tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công và Quản trị dịch vụ du lịch. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp dữ liệu thứ cấp định lượng với phỏng vấn sâu chuyên gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lượng khách đến An Giang đứng đầu vùng nhưng doanh thu lại ở mức thấp?

Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu khách lệch về nhóm hành hương tâm linh với mức chi tiêu bình quân chỉ đạt khoảng 200.000 đồng/ngày. Khách chủ yếu đi tự túc trong ngày, thời gian lưu trú vỏn vẹn 1,05 ngày và hệ thống dịch vụ bổ trợ, mua sắm cao cấp gần như chưa phát triển.

Dự án xây dựng sân bay An Giang 4.000 tỷ đồng có tính khả thi không?

Dự án có tính khả thi kinh tế rất thấp vì các sân bay lân cận như Cần Thơ (cách 60 km) và Rạch Giá chỉ hoạt động từ 10% đến 30% công suất thiết kế và liên tục bù lỗ. Việc nâng cấp hạ tầng đường bộ và hoàn thành Cầu Vàm Cống mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều.

Tại sao luận văn đề xuất chuyển từ du lịch tâm linh sang du lịch di sản?

Du lịch tâm linh tại An Giang mang tính mùa vụ cao (tập trung vào 4 tháng đầu năm) và thị trường đã bão hòa. Trong khi đó, du lịch di sản với nền văn hóa đa dạng của người Chăm, Khmer và di chỉ Óc Eo có khả năng thu hút khách quốc tế lưu trú dài ngày và chi trả cao quanh năm.

Điểm nghẽn lớn nhất về nguồn nhân lực du lịch tại An Giang là gì?

Toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2010 chỉ có 6,3% lao động du lịch có bằng đại học. Tại An Giang, chương trình đào tạo của Đại học An Giang còn nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng quản trị thực tế, dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực phục vụ khách cao cấp.

Áp dụng lý thuyết cụm ngành của Porter mang lại lợi ích gì cho địa phương?

Mô hình cụm ngành giúp chính quyền và doanh nghiệp nhận diện rõ mối liên kết cộng sinh giữa điểm đến, cơ sở lưu trú, giao thông và chính sách quản lý. Qua đó, các bên chuyển từ cạnh tranh triệt tiêu sang hợp tác nâng cao chất lượng toàn chuỗi giá trị.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc nghịch lý phát triển của du lịch An Giang khi chiếm 32% lượng khách nhưng chỉ mang lại 7% doanh thu cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2011.
  • Minh chứng rõ nét tính bất khả thi và rủi ro lãng phí ngân sách của dự án sân bay An Giang 4.000 tỷ đồng trong tương quan so sánh với các sân bay lân cận.
  • Xác định điểm nghẽn cốt lõi nằm ở hạ tầng đường bộ, chất lượng nhân lực thấp và sự phân mảnh của cụm doanh nghiệp vừa và nhỏ với hơn 70% có vốn dưới 5 tỷ đồng.
  • Đề xuất lộ trình chuyển dịch chiến lược mang tính bước ngoặt từ du lịch tâm linh mùa vụ sang du lịch di sản - văn hóa đa dân tộc có giá trị cao.
  • Khẳng định giá trị ứng dụng thực tiễn của Mô hình Cụm ngành Porter trong việc định hình chính sách phát triển kinh tế cấp tỉnh tại Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp khung đánh giá khoa học giúp chính quyền địa phương tái cơ cấu vốn đầu tư công và thúc đẩy liên kết doanh nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2013 đến 2020, tỉnh cần khẩn trương hoàn thiện các nút giao thông huyết mạch và chuẩn hóa nguồn nhân lực lữ hành. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách hãy khai thác ngay nguồn cứ liệu thực chứng từ luận văn này để ứng dụng vào công tác xây dựng chiến lược phát triển ngành du lịch địa phương một cách bền vững.