LỜI MỞ ĐẦU 2. Tính cấp thiết của đề tài: Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 cơ chế NNT tự khai tự nộp thuế được luật hóa và dựa trên cơ sở người nộp thuế tự giác chấp hành, tự nguyện tuân thủ. Tiền đề quan trọng để NNT tự nguyện tuân thủ, tự giác chấp hành chính là dựa trên 2 điều kiện cơ bản đó là hệ thống dịch vụ hỗ trợ về thuế và kiểm soát thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. Với phương châm “NNT là bạn đồng hành của Cơ quan Thuế là đối tác quan trọng và thân thiện nhất của Cơ quan Thuế” thì các Cơ quan thuế luôn tạo điều kiện tốt nhất cho NNT trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Một trong những hành động đó là nâng cao công tác TTHT về thuế cho NNT. Đây là một chiến lược lâu dài của ngành Thuế nhằm làm gia tăng hiệu quả sự tuân thủ tự nguyện của NNT. Ở nước ta hiện nay tính đến thời điểm năm 2014 thời gian nộp thuế của doanh nghiệp khoảng 537 giờ/năm, cao gần nhất khu vực do vậy không quá khó hiểu khi doanh nghiệp thường phàn nàn nhiều nhất về ngành thuế. Trong bối cảnh trên Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ngành Thuế phải tìm mọi cách để giảm được thời gian thủ tục về thuế của doanh nghiệp xuống theo lộ trình phấn đấu đến cuối năm 2017 giảm được thời gian hoàn thành thủ tục về thuế của doanh nghiệp về mức 110 giờ/năm, ngang với chuẩn của ASEAN-6.
Để làm được như vậy, ngoài việc Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm giảm bớt gánh nặng cho NNT thì các Cơ quan thuế phải nâng cao công tác TTHT về thuế cho người nộp thuế. Cục thuế tỉnh Lào Cai nằm trong 63 cục thuế tỉnh, thành phố của cả nước là tỉnh vùng cao biên giới phía bắc ở nước ta, cục thuế tỉnh Lào Cai thực hiện quản lý thu nộp thuế trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Kể từ khi được thành lập tháng 10/1991 đến nay trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Cục thuế tỉnh Lào Cai đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước từ 15-20%.
Tuy nhiên, mặc dù số thu có tăng nhưng tốc độ chậm, chưa tương xứng với lợi thế về tiềm lực kinh tế, xã hội trên địa bàn. Nguyên nhân cơ bản ở đây chính là còn có nhiều tổ 2 chức, cá nhân nộp thuế chưa tự nguyện kê khai, nộp thuế đúng đủ theo quy định do xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật thuế hiện hành. NNT chưa tự giác chấp hành tốt pháp luật thuế một phần do TTHT về thuế của cục thuế tỉnh Lào Cai chưa thật sự mang lại hiệu quả. Qua đó tác giả nhận thấy TTHT về thuế cho NNT tại cục thuế tỉnh Lào Cai hiện nay còn những vấn đề hạn chế là do sự quan tâm lãnh chỉ đạo của lãnh đạo cục thuế còn chưa sát sao, do nguồn nhân lực còn hạn chế, đội ngũ cán bộ còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác TTHT, trình độ ứng dụng công nghệ TT vào thực tế còn hạn chế chưa đồng đều.
Từ thực tế kể trên, bản thân tôi mong muốn được vận dụng những tri thức về quản trị kinh doanh và khoa học về quản lý, quản trị chất lượng đã được học vào lĩnh vực TTHT NNT của cục thuế tỉnh Lào Cai để xác định được những hạn chế, tồn tại trong công tác TTHT NNT trong thời gian qua, đồng thời đóng góp những giải pháp để từng bước cải thiện hình ảnh, uy tín của Cơ quan thuế trong mắt các tổ chức, cá nhân nộp thuế trên địa bàn tỉnh Lào Cai nhằm nâng cao công tác TTHT NNT nên tôi chọn đề tài “TTHT NNT tại Cục thuế tỉnh Lào Cai ” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. Tổng quan nghiên cứu các đề tài liên quan Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về các dịch vụ công nói chung và TTHT về thuế nói riêng là các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài như sau: - Công trình “Chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính” của tác giả PGS.TS Lê Chi Mai đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 3 (2008). Trong công trình này, Tác giả nêu được khái niệm dịch vụ công và làm rõ cách hiểu dịch vụ công do cơ quan nhà nước cung cấp ở Việt Nam và các nước trên thế giới từ đó tác giả phân tích và nêu bật được bản chất của chất lượng dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp trong đó có dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính thì khác biệt như thế nào so với tư nhân cung cấp, điều kiện và yếu tố cần thiết để có thể cải thiện chất lượng dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp.
Tác 3 giả cũng đã đưa ra được bẩy đặc điểm của dịch vụ công do các cơ quan công quyền của nhà nước cung cấp như Cơ quan Thuế cung cấp dịch vụ về lĩnh vực thuế cho dân chúng dựa trên cơ sở các lý thuyết của Le Petit Larousse và Jean-Philippe Brouant, Jacque Ziller. Tuy nhiên ở công trình tác giả chủ yếu phân tích các đặc điểm của dịch vụ công, khái niệm và từ đó đưa ra các yếu tố ảnh hưởng cũng như các yêu cầu để nâng cao chất lượng dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp trong đó có cơ quan quản lý thuế. - Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Mộng Tuyền (năm 2007), nghiên cứu tại Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: “Hoàn thiện hoạt động TTHT đối tượng nộp thuế trong quản lý thuế ở Cục Thuế An Giang”. Tác giả đã khái quát mô hình quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp và theo chức năng theo quy định của Luật Quản lý thuế và lộ trình cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ, từ đó đánh giá công tác TTHT NNT theo cơ chế mới, cơ chế mà người nộp thuế phải chủ động tìm hiểu nắm bắt kỹ càng các chính sách pháp luật thuế của nhà nước, từ đó tự giác kê khai nộp thuế đúng đủ, kịp thời theo quy định.
- Luận văn tiến sỹ của tác giả Hồ Tuấn Vũ (năm 2009), Đại học Duy Tân: “Nâng cao chất lượng công tác TTHT NNT tại các Chi cục Thuế”. Tác giả đã nghiên cứu làm rõ nội dung và tầm quan trọng dịch vụ công của Cơ quan Thuế cung cấp cho các đối tượng nộp thuế là công tác TTHT NNT. Tác giả tập trung đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ TTHT về thuế và sự hài lòng của người nộp thuế. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân (năm 2011), ĐH Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: “Đánh giá chất lượng công tác TTHT NNT tại Chi cục Thuế Quận 1”.
Tác giả đã tiến hành khảo sát và đánh giá về chất lượng dịch vụ TTHT về thuế của Chi cục Thuế Quận 1 thông qua kiểm định mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL. Kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần của chất lượng dịch vụ với mức độ hài lòng của NNT. - Công trình của tác giả Việt Hà (năm 2011) về thuế điện tử có lợi cho người nộp thuế. Tác giả đã phân tích và đề xuất hình thức phục vụ NNT thông qua hệ 4 thống hỗ trợ thuế điện tử là các website về thuế.
Đây là một hình thức phục vụ mới mang tính tất yếu trong chiến lược hiện đại hóa ngành Thuế đã được Chính phủ phê duyệt và nằm trong lộ trình xây dựng một nền Chính phủ điện tử trong đó Thuế và Hải quan được lựa chọn là hai ngành tiên phong trong ứng dụng công nghệ TT vào hoạt động quản lý thuế. Tuy nhiên, tác giả chỉ phân tích và đề xuất nâng cao chất lượng phục vụ NNT dưới góc nhìn và phạm vi giới hạn bởi môi trường internet. Tóm lại, các tác giả đã nghiên cứu nhiều công trình về chất lượng dịch vụ công, phục vụ NNT, nhiều bài báo phân tích về chất lượng phục vụ NNT. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về TTHT NNT tại Cục thuế tỉnh Lào Cai góp phần chung trong chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam, hội nhập với các hệ thống thuế hiện đại trên thế giới.
Đề tài tôi lựa chọn mang tính kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu khoa học trước đây đồng thời có nghiên cứu, phân tích, đánh giá và những giải pháp mới để hoàn thiện TTHT NNT tại Lào Cai. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được khung nghiên cứu về TTHT NNT tại cục thuế. - Phân tích được thực trạng tuyên truyên hỗ trợ NNT tại cục thuế tỉnh Lào Cai. - Đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện TTHT NNT tại cục thuế tỉnh Lào Cai đến năm 2020.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: TTHT tại cục thuế tỉnh Lào Cai. - Phạm vi về nội dung: nghiên cứu theo quy trình TTHT. - Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại cục thuế tỉnh Lào Cai, đối tượng TTHT là NNT trên địa bàn tỉnh Lào Cai (NNT thuộc sự quản lý của cục thuế tỉnh Lào Cai và thuộc sự quản lý của các chi cục thuế trực thuộc cục thuế tỉnh Lào Cai) - Phạm vi về thời gian dữ liệu thứ cấp thu thập 3 năm (2014 – 2016), dữ liệu sơ cấp thu thập đến tháng 5 năm 2017. Đề xuất giải pháp đến năm 2020.
Khung nghiên cứu Yếu tố ảnh hưởng đến TTHT NNT tại cục Mục tiêu tuyên truyền, TTHT NNT tại cục thuế hỗ trợ tại cục thuế. thuế - Nhóm yếu tố thuộc - Lập kế hoạch tổng thể - Góp phần nâng cao cục thuế TTHT NNT hàng năm nhận thức của NNT, về - Nhóm yếu tố thuộc - Triển khai các hình chính sách thuế của NNT thức TTHT NNT. NNT trên địa bàn tỉnh - Nhóm yếu tố khác - Tổng kết và đánh giá - Góp phần nâng cao thuộc môi trường của TTHT NNT mức độ tuân thủ pháp NNT luật thuế của NNT trên địa bàn tỉnh 6. Quy trình nghiên cứu - Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan để xác định khung nghiên cứu về TTHT NNT tại cục thuế.
Phương pháp sử dụng trong bước này là phân tích, tổng hợp hóa. 6 - Thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo về TTHT NNT tại cục thuế tỉnh Lào Cai.