Chương 1 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11) 1) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; 2) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; 3) Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế. - Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho NNT: 1) Hoạt động tuyên truyền cho NNT được thực hiện bằng nhiều hình thức hoạt động để phổ biến truyền tải những quy định về thuế được ban hành trong các văn bản pháp luật về thuế của nhà nước cũng như khuyến khích sử dụng những chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Thuế đến công chúng, đặc biệt là NNT. 2) Hoạt động hỗ trợ cho NNT còn là hoạt động tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp quá trình thực thi chính sách, pháp luật về thuế. Tóm lại, Hoạt động TTHT cho NNT là một loại dịch vụ công do CQT đảm nhiệm trên cơ sở vận dụng một cách khoa học các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ nhằm tạo dựng nhận thức đúng đắn, ý thức tự nguyện, tự giác nộp thuế và sự hỗ trợ về thông tin, văn bản giấy tờ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, hướng tới mục tiêu công bằng, hợp lý của xã hội.
Đặc điểm hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế: Hoạt động TTHT cho NNT, luôn mang những đặc điểm của dịch vụ công, ngoài ra bản thân nó cũng có những đặc điểm mang tính dịch vụ chuyên biệt. Từ kết quả quan sát, nghiên cứu và thực tế cho thấy có đặc điểm sau đây 1. Là những hoạt động có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng. Đây là những dịch vụ phục vụ các lợi ích tối cần thiết đảm bảo mọi người trong xã hội đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi công bằng.
Là những hoạt động do các CQT đại diện cho chủ thể là Nhà nước đứng ra thực hiện. Chuyên đề thực tập cuối khóa 3. Để cung ứng các dịch vụ công này, các CQT được ủy nhiệm cung ứng có sự giao tiếp với người dân ở những mức độ khác nhau khi thực hiện cung ứng dịch vụ. Việc trao đổi dịch vụ này thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.
Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước để Nhà nước tổ chức việc cung ứng một cách đều đặn như một sự "thỏa thuận trước". Trong một số chừng mực nào đó người sử dụng vẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, đối với các loại dịch vụ này, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng không nhằm vào mục tiêu thu lợi nhuận. Mọi người dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít) đều có quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ này ở một mức độ tối thiểu, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Lượng dịch vụ công mà mỗi người tiêu dùng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp.
Khác với những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục vụ không tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, dịch vụ này là những hoạt động của bộ máy nhà nước phục vụ các nhu cầu thiết yếu của xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật. Xét trên giác độ kinh tế học, dịch vụ này là các hoạt động cung ứng cho xã hội những hàng hóa công cộng. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà khi nó đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; và việc tiêu dùng của mỗi người không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác. Khi được cung cấp dịch vụ này, dịch vụ trở thành hàng hoá thì hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa đó.
Hiệu quả của dịch vụ này phụ thuộc nhiều vào sự nhận biết của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Sự nhân biết của các cá nhân tổ chức trong xã hội lại phụ thuộc rất nhiều và chất lượng của dịch vụ. Kết quả cuối cùng của dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng của mỗi quốc gia. Suy cho cùng chính là chỉ số thu nhập bình quân trên đầu người trong xã hội.
Chuyên đề thực tập cuối khóa 1. Chất lượng hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế. Quan niệm về chất lượng hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế là quá trình tiếp nhận, trao đổi thông tin lẫn nhau giữa cơ quan thuế và NNT. Chính vì thế, chất lượng dịch vụ tuyên truyền hỗ trợ cho người nộp thuế chịu sự tác động và chi phối bởi một số nội dung như sau: - Văn bản pháp luật về thuế - Phương pháp tuyên truyền hỗ trợ của cơ quan thuế - Lực lượng cán bộ công chức làm công tác tuyên truyền, hỗ trợ - Trình độ nhận thức và hiểu biết của NNTThái độ, tình cảm của NNT và cán bộ thuế - Điều kiện cơ sở, vật chất - Sự quan tâm của xã hội Từ những nhiên cứu trên có thể đưa ra quan niệm về chất lượng hoạt động TTHT cho NNT là khả năng cung ứng tối đa các dịch vụ của CQT đối với NNT nhằm tạo sự thoả mãn của NNT khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó: mức độ hài lòng của khách hàng được xem như là kết quả, và chất lượng dịch vụ chính là nguyên nhân 1.2 Đánh giá chất lượng hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế theo mô hình chất lượng dịch vụ.
Qua nghiên cứu mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman & ctg (1985), chúng ta thấy được bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng bất kỳ dịch vụ nào chất lượng của dịch vụ được cảm nhận bởi khách hàng có thể xây dựng thành mô hình mười thành phần, đó là: - Tin cậy (reliability) nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. - Đáp ứng (responsiveness) nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. - Năng lực phục vụ (competence) nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ.
Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực Chuyên đề thực tập cuối khóa tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng. - Tiếp cận (access) liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. - Lịch sự (courtesy) nói lên tính cách niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng. - Thông tin (communication) liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.
- Tín nhiệm (credibility) nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào đơn vị cung cấp dịch vụ. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của đơn vị cung cấp dịch vụ, nhân cách của nhân viên dịch vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. - An toàn (security) liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng như bảo mật thông tin. - Hiểu biết khách hàng (understanding/knowing the customer) thể hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên.
- Phương tiện hữu hình (tangibles) thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Mô hình mười thành phần của chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của một dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường. Hơn nữa, mô hình này mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ này không đạt giá trị phân biệt.
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này và đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản, đó là: - Tin cậy (reliability) thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. - Đáp ứng (responsiveness) thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Chuyên đề thực tập cuối khóa - Năng lực phục vụ (assurance) thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. - Đồng cảm (empathy) thể hiện qua sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng.
- Phương tiện hữu hình (tangibles) thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Parasuraman & ctg (1988) đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành phần của chất lượng dịch vụ, gọi là thang đo SERVQUAL (Service Quality) bao gồm 22 biến. Thang đo này đã được các tác giả này kiểm nghiệm, điều chỉnh nhiều lần và kết luận rằng nó là thang đo phù hợp cho mọi loại hình dịch vụ. Thang đo SERVQUAL cuối cùng bao gồm 21 biến quan sát.
Mô hình năm thành phần chất lượng dịch vụ và thang đo SERVQUAL bao phủ khá hoàn chỉnh mọi vấn đề đặc trưng cho chất lượng của một dịch vụ. Parasuraman & ctg (1991, 1993) khẳng định rằng thang đo SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng của chúng nên khi nghiên cứu ngành dịch vụ nào cũng cần có những, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Như đã trình, thang đo SERVQUAL là thang đo chất lượng dịch vụ được sử dụng phổ biến.