Chương 1: Một số lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Những vấn đề chung về thuế và công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn Tài chính công tái bản năm 2016: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” (Gaston Jeze (2016), Tài chính công, NXB Tài chính).
Theo tác giả Đặng Văn Dân (2018) trong cuốn Giáo trình thuế, NXB Tài chính thì thuế được định nghĩa trên 3 góc độ: Góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính). Góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính). 10 Góc độ kinh tế học: “Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính). Đặc điểm của thuế Để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau: * Thứ nhất, thuế mang tính bắt buộc.
Thuế khác với đa số các khoản chuyển giao tiền từ người này sang người khác: trong khi tất cả các khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc. Thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT. Tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa và việc đóng thuế cho Nhà nước không phải là kết quả này sinh từ hành vi phạm pháp là mà nghĩa vụ đóng góp được pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh. * Thứ hai, thuế mang tính không hoàn trả trực tiếp.
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT. NNT không thể phản hồi việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được hưởng những lợi ích trực tiếp từ Nhà nước. Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được Nhà nước hoàn trả gián tiếp thông quan các dịch vụ công cộng của Nhà nước cho cộng đồng và xã hội.
Thuế khác với các hình thức động viên khác như: phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước bởi những khoản này có tính chất đối ứng rõ rệt và phần nào đó mang tính chất tự nguyện, trao đổi ngang bằng giữa những khoản phải trả và lợi ích dịch vụ mà họ nhận được. * Thứ ba, tính pháp lý cao. Tính pháp lý được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Tính 11 pháp lý được thể hiện thông qua các quy định cần thiết của Nhà nước về phạm vi, hình thức và các thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
Tóm lại, đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về Nhà nước và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong đời sống xã hội. Nhà nước dùng thuế để tái phân phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Trong xã hội dân chủ, mặc dù không nhận đổi giá trực tiếp từ số tiền thuế đã nộp nhưng dân chúng cũng nhận được một cách gián tiếp thông qua lợi ích từ các dịch vụ công mà Nhà nước cung cấp. Do đó, ngoài việc tiến hành thu thuế thật công bằng, minh bạch, Chính Phủ cần phải công bố rõ ràng chương trình hành động của mình và tăng cường giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế ngay từ bậc tiểu học.
Như vậy, dân chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế, mới xem nộp thuế là một việc làm tự nhiên và cần thiết cho cuộc sống cộng đồng. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 vai trò cơ bản, đó là: huy động nguồn lực tài chính cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; vai trò phân phối lại thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. * Thứ nhất, thuế có vai trò huy động nguồn lực tài chính cho NSNN. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất cho NSNN.
Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thường chiếm trên 80% tổng thu của NSNN. Ở nước ta, không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế cũng thường chiếm trên 90% tổng các khoản thu của NSNN trong vòng một thập kỷ trở lại đây. * Thứ hai, thuế có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế có thể được sử dụng như một công cụ nhạy bén góp phần kềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Trường hợp lạm phát do nguyên nhân cầu cao làm giá cả tăng cao, Nhà nước có 12 thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế làm giảm bớt áp lực tăng cầu giả tạo, trên cơ sở đó điều chỉnh lại cân bằng quan hệ cung cầu. Trường hợp lạm phát nảy sinh từ chi phí đẩy thì việc giảm thuế đối với các yếu tố đầu vào là cần thiết để giảm nhẹ áp lực tăng chi phí và tạo điều kiện hạ giá bán sản phẩm, trên cơ sở đó lập lại quan hệ cung cầu, ổn định giá cả thị trường. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển quá nóng, Nhà nước có thể tăng thuế nhằm giảm bớt đầu tư. Nếu nền kinh tế phát triển trì trệ, Nhà nước giảm thuế sẽ góp phần kích thích đầu tư, kích cầu tiêu dùng làm cho kinh tế hồi phục nhanh hơn.
Nhà nước áp dụng chính sách thuế phân biệt giữa các ngành nghề, lĩnh vực, khu vực, vùng lãnh thổ khác nhau có tác dụng phân bổ lại nguồn lực, tạo ưu thế tương đối cho những vùng, khu vực ngành nghề cần ưu tiên phát triển nhằm duy trì hoăc lập lại trạng thái phát triển hài hòa, cân đối của toàn bộ nền kinh tế. * Thứ ba, vai trò phân phối lại thu nhập. Thuế được coi là công cụ sắc bén để phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội. Thuế có thể đạt được những mục tiêu công bằg này nếu nó bao quát được hầu hết đối tượng nộp thuế và phân biệt mức đóng góp thông qua các mức thuế suất khác nhau, đặc biệt là thuế suất lũy tiến theo thu nhập.
Ngoài ra, thuế còn được coi là công cụ sắc bén để bảo hộ sản xuất nội địa và duy trì, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thuế là hàng rào bảo hộ linh hoạt và hiệu quả nhất nhằm điều hòa áp lực cạnh tranh. Nhà nước đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu có tác dụng giảm bớt hoặc triệt tiêu lợi thế giá cả giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước. Nhà nước đánh thuế thấp hoặc bằng không đối với hàng nhập khẩu có tác dụng khuyến khích nhập khẩu những hàng hóa cần thiết bù đắp thiếu hụt cho nền kinh tế, đồng thời gây áp lực cần thiết nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho những ngành hàng nội địa tương tự.
Như vậy để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở 13 mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng" công cụ thuế của mỗi quốc gia đó. Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động của Cơ quan Thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra. Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của Cơ quan Thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được hiểu là hoạt động do Cơ quan Thuế tiến hành nhằm kiểm tra tài liệu của NNT để xác định sự tuân thủ pháp luật của NNT.