Chương 1 TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án Trên thế giới, thuế TNCN là một trong những loại thuế xuất hiện từ khá sớm (năm 1797 ở Hà Lan). Trong lịch sử tồn tại lâu dài của mình, có rất nhiều nghiên cứu về thuế và pháp luật thuế TNCN đã được công bó.
Tuy nhiên, những công trình có dé cập trực tiếp đến van đề KSTNCN thi không nhiều. Ở mức độ khái quát, có thể ké đến một số công trình tiêu biểu liên quan đến việc thực hiện pháp luật thuế TNCN và KSTNCN trong thực thi pháp luật thuế TNCN như sau: Các nghiên cứu về thực trạng thuế thu nhập cá nhân Năm 2004, các tác giả Hugh J.Aul, Boston College Law School &Brian J.Arnold, Goodmans, LPP, Toronto là chủ biên đã công bố cuốn sách: Phân tích cơ cấu thuế thu nhập dưới góc độ so sánh” (lên nguyên bản bằng tiếng Anh: Comparative Income Taxation: A Structural Analysis). Đây là công trình nghiên cuu mot cach hé thống, chuyên sâu về thuế thu nhập cá nhân do những chuyên gia hàng đầu về chính sách thuế của các trường đại học và học viện uy tín trên thế giới như: Harvard Law School, Boston College Law School, University of Pari II, University of Cambridge. Bằng việc nghiên cứu phân tích, so sánh nội dung, cấu trúc thuế thu nhập cá nhân của 9 nước có nền kinh tế phát triển có những đặc điểm chung trong quá trình xây dựng luật thuế thu nhập, các tác giả đã phân tích, so sánh và bình luận về các giải pháp khác nhau được đưa ra bởi các quốc gia nói trên trong việc xây dựng và thực hiện thuế thu nhập với mục đích kiểm soát nguồn thu và đảm bảo công bằng giữa những NNT.
Cuốn sách có giá trị tham khảo rất lớn trong việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam. Năm 2006, tác giả Bert Brys and Christopher Heady thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế OECD đã công bố cuốn sách “Cải cách cơ bản thuế thu nhập cá nhân ở các nước OECD: những xu hướng và kinh nghiệm mới nhất, (tên nguyên bản bằng tiếng Anh: Fundamental reform ofpersonal income tax in OECD countries: trends and recent experiences). Công trình này nghiên cứu xem xét các xu thế hiện nay trong hệ thống thuế TNCN của các nước thành viên tổ chức OECD. Đóng góp của công trình nghiên cứu này được thể hiện: (i) công trình nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn đa chiều về chính sách thuế TNCN dưới hình thức so sánh thuế TNCN của một số nước; (ii) chỉ ra xu hướng đánh thuế TNCN gan đây của các nước OECD và chỉ ra mục tiêu chính của việc cải cách thuế hiện nay của một SỐ nước thuộc OECD đó là kiểm soát nguồn thu, tạo nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo công băng trong thuế TNCN.
Năm 2005, tác giả Luis Fernando Wasilewki - NCS tại Đại học Quốc Gia Yokohama đã công bố công trình nghiên cứu có tên gọi: “Các phân tích đưới góc độ kinh tế về thuế thu nhập cá nhân của Nhật Bản” (tên nguyên bản tiếng Anh là Economic Analysis of The Japanese Individual Income Tax). Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, những đóng góp chủ yếu của công trình này thé hiện: (i) tác giả đã tập trung phân tích về thuế TNCN của Nhật Ban, khang định vai trò của biện pháp khấu trừ tại nguồn luôn chiếm một phần quan trọng trong tổng số thu về thuế TNCN và chiếm tỷ lệ 82%; (ii) tác giả đã đề xuất: các ưu đãi về thuế đối với thu nhập từ von nên dan được bãi bỏ; điều chỉnh mức thuế suất được xem như một cách khôi phục lại vai trò của Luật thuế TNCN Nhật Bản với vai trò là một công cụ nhằm điều tiết lại thu nhập dân cư, KSTN cá nhân, giảm xói mòn thuế.[173]; (iii) tác giả đưa ra lập luận rằng hệ thống hợp tác trong thu thuế TNCN của Nhật Bản là một ví dụ về cách hợp tác có thể làm giảm bớt gánh nặng cho NNT và tăng hiệu quả kiểm soát thu thuế. Đóng góp quan trọng nhất về mặt khoa học của nghiên cứu này là ở chỗ, các tác giả đã chỉ ra biện pháp khấu trừ tại nguồn luôn là một trong những biện pháp KSTNCN hiệu quả không chỉ với Nhật Ban mà còn với các quốc gia khác. Các nghiên cứu về quản lý thuế thu nhập cá nhân Một số công trình đề tài đã tập trung nghiên cứu về các khía cạnh trong quản lý thuế TNCN, trong đó nội dung ít nhiều có dé cập đến van đề quản lý, KSTN trong thực thi pháp luật thuế TNCN.
Có thé nêu một số công trình tiêu biểu sau: Nam 1987, hai tác giả VitoTanzi and Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF đã công bố nghiên cứu: “Đánh thuế thu nhập hợp lý — các phương diện quản lý, hiệu quả và công bằng” (tên nguyên bản bằng tiếng Anh: Presumptive Income Taxation-Administrative, Efficiency and Equity Aspects). Tiếp cận dưới góc độ tài chính công, nghiên cứu này đã đánh giá thu nhập trên cơ sở các chỉ số hiệu quả, trong đó kết quả nghiên cứu khang định phương pháp thuế thu nhập khoán được sử dụng rộng rãi ở nhiễu nước. Các tác giả lập luận rằng cần sự chú ý nhiều hơn tới các tác động hiệu quả của phương pháp thuế khoán [180]. Đóng góp của nghiên cứu này được thể hiện qua phân tích những hệ quả tích cực đo việc áp dụng hình thức thuế khoán mang lại cho cơ quan quản lý thuế ở các quốc gia.
Với NCS khi nghiên cứu đề tài luận án thì phương pháp thuế thu nhập khoán được cho là một trong những giải pháp hỗ trợ trong công tác KSTN của người nộp thuế thu nhập cá nhân.Bird và Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF đã công bé nghiên cứu: “Hodn thiện quan lý thuế ở các nước dang phát triển ” (tên nguyên bản tiếng Anh: Improving Tax Administration in Developing Countries. Nghiên cứu về xu hướng phát triển cải cách chính sách thuế, chú trọng tới các quy định hành chính thuế, kết quả cải cách thuế ở một số nước (Bolivia, Uruguay, Colombia, Trinidat.), đề xuất giải pháp phù hợp đối với NNT, đưa ra các khuyến nghị nhăm cải thiện sự tuân thủ của NNT qua đó góp phần kiểm soát thu nhập của NNT [177]. Nam 1990, các tac gia Richard M.Bird va Oliver Oldman biên soạn va công bố cuốn sách: “Thuế ở các nước dang phat triển” (tên nguyên bản tiếng Anh: Tax in Developing Countries) ấn bản lần 4, NXB Johns Hopkins phát hành năm 1990. Tại chương 36 về “cải thiện tuân thủ thuế”, nghiên cứu này đã góp phan khang định: “tron thuế không chỉ là van dé hạn chế trong một số ít các quốc gia kém phát triển; và những khảo sát trước đó đã cho thấy tình trạng chi thu duoc một nửa hay it hon số thuế thu nhập tiềm năng không phải là tình trạng cá biệt.
Tại nhiều nước, người ta đã nghe nhiễu đến vấn dé có vô số những người giàu có - các nhà buôn, các nhà chuyên môn. lại hoàn toàn nằm ngoài phạm vì quản lý của thuế thu nhập. Mặt khác, nghiên cứu còn cho thấy rằng vấn đề trốn thuế của những người hoàn toàn không được hệ thống thuế biết đến thì ít hơn so với những người nam trong hệ thống thuế nhưng lại kê khai thu nhập một cách nhạo báng. Trong trường hợp này, biện pháp chế ngự mà các tác giả đưa ra không phải là tiếp tục bổ sung thêm tên tudi của những người này vào danh sách đóng thuế, mà đúng hơn là cần phải ra sức cải thiện sự tuân thủ của những người hiện đang là “„gười đóng thuế danh nghĩa” [178].
10 Đóng góp về mặt khoa học của nghiên cứu này thể hiện, các tác giả đã chỉ ra thực trạng chung ở các nước, đó là tình trạng người nộp thuế mới chỉ đóng thuế dựa trên thu nhập danh nghĩa, còn cơ quan thuế vẫn chưa thê xác định được thu nhập thực tế của họ dé đánh thuế. NCS cho rằng việc cải thiện sự tuân thủ thuế của những NNT là một việc làm rất quan trọng giúp NNT kê khai đúng số thuế phải nộp, qua đó tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế trong việc KSTNCN. Lý thuyết này cũng tạo cơ sở lý luận giúp cho NCS nghiên cứu những nội dung thuộc về bản chất pháp lý của vấn đề KSTCN. Các nghiên cứu về kiểm soát thu nhập cá nhân của người nộp thuế Về vấn đề kiểm soát thu nhập của người nộp thuế thu nhập cá nhân, đã có một số công trình tiêu biểu như: Năm 2006, tác giả Stephan Vasak ESQ đã công bố cuốn sách có tiêu đề: Phân tích và Kiến nghị cho Cộng hòa Latvia “Chế độ kiểm soát thu nhập doi với công chức và tự nhiên nhân” (lên nguyên bản bằng tiếng Anh: Analysis and Recomendations for The Republic of Latvia Income control system for public officials and natural persons) tac gia Stephan Vasak ESQ, 6/2006; với các tiếp cận từ phương diện pháp luật hành chính công.
Day là công trình nghiên cứu thuộc nhóm dự án cải cách chính sách thuế do Ngân hàng thế giới World Bank tài trợ. Tác pham này là một công trình nghiên cứu khoa học công phu của tác giả, trong vai trò là một luật sư cao cấp về thuế với những đóng góp rất lớn như: (¡) đi sâu phân tích, đánh giá về thực trạng cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân ở Latvia (các chương III về kiểm soát thu nhập của các quan chức, chương V về khai báo thu nhập và kê khai tài sản thu nhập, chương VI về kiểm soát thu nhập của các cá nhân); (ii) đưa ra những khuyến nghị cho việc điều chỉnh cơ chế KSTN của người dân nước Cộng hoà Latvia. Do được tiếp cận nghiên cứu dưới phương diện pháp luật hành chính công nên nhiều vấn đề pháp lý về KSTNCN được tác giả tập trung phân tích kỹ, có chất lượng và giá trị tham khảo, với nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật về KSTN của người nộp thuế TNCN [179]. Năm 2005, tác giả Anita Brauna đã công bồ bài báo “Kiểm soát thu nhập của các cá nhân ở Láf-vi-a”, được đăng trên trang: www.lv, tháng 3 năm 2005 (tên nguyên bản bằng tiếng Anh: Controlling the income of individuals in Latvia) của tác giả, 3/2005 [161].