Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế tải nguyên và quản lý thu thuế ti nguyên trên địa bản tính Lạng Sơn Chương 2: thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bin tỉnh Lạng Sơn tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: giải pháp ting cường công tác quản lý thu thuế tài nguyên khoáng sản trên địa bản tỉnh Lang Son trong thời gian tới. CHUONG 1_ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THUE TÀI NGUYÊN VA QUAN LÝ THU THUE TAI NGUYÊN KHOANG SAN TREN DJA BAN TINH LANG SON 1.1 Cơ sở lý luận về thuế tài nguyên va quản ly thuế tài nguyên khoáng san 1.1 Khái niệm về thuế tài nguyên khoáng sản 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, ton tại và phát triên của một nhà nước. Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế.
Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản. Mac đã chi rõ: “Dé duy trì quyên lực công cộng đó, can phải có những sự đóng góp của những người công dan của Nhà nước đó là thuế má. Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bồ sung và hoan thiện hơn.
Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập cua cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chỉ tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản ”. Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thué là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phi, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phat mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” [2]. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cô điển nhất: “Thué là một khoản trích nộp bang tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyên lực nhằm bù đắp những chỉ tiêu của Nhà nước” [3]. Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước dé dap ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế, thué được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cau chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyên một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nham thực hiện các chức năng kinh tê-xã hội của Nhà nước. Ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998), thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp.
buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định. Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung dé tìm các hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thê nhân trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyền giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuê có năm đặc diém phân biệt với các công cụ tai chính khác. Thứ nhất, thuê là một khoản chuyên giao thu nhập của các tang lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc. Thứ hai, việc chuyên giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Thứ ba, việc chuyên giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định băng pháp luật. Thứ tư, các khoản chuyền giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định. Thứ năm, các khoản chuyên giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản.[4] * Vai tro: Thứ nhất, Thuê là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nha nước. “Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước”.
Thứ hai, Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thứ ba, Thuê góp phần điều hòa thu nhập và thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.112 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tài nguyên Tùy theo các quan điểm quản lý, xác lập quyền sở hữu tài nguyên của quốc gia mà có cách quản lý và điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên dưới hình thức là một khoản thuế, hay là khoản thu trên quyền khai thác tài nguyên. Ở nước ta, việc điều tiết đối với hoạt động khai thác tai nguyên được ban hành dưới hình thức là một sắc thuê, áp dụng đôi với mọi tô chức, cá nhân tiên hành hoạt động khai thác tài nguyên. Do vậy, thuế tài nguyên được định nghĩa như sau: Là khoản thu của ngân sách nhà nước nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia, tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên.[5] * Đặc điểm: Thuế Tài nguyên là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý Cũng như các loại thuế khác, thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN, mặc dù không phải là loại thuế đem lại khoản thu chủ yếu cho NSNN nhưng cũng đóng góp một phần không nhỏ, tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước.
Khoản thu này đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quan ly.[5] Thuế tài nguyên được tính trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên Dé thu thuế tài nguyên, Nhà nước tính thuế dựa trên sản lượng và giá bán sản phẩm tai nguyên ma không phụ thuộc vào mục đích khai thác tai nguyên. Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là thuế gián thu, Nhà nước thu tiền thuế từ người khai thác tài nguyên, nhưng thực chất người tiêu dùng mới là người phải trả tiền thuế đó. Người khai thác tài nguyên tính toán số thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác, câu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên cho người tiêu dùng. Vì lẽ đó, người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả tiền thuế tài nguyên.
[5] Đối tượng nộp thuế tài nguyên là: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyén.[5] Mọi tô chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên, đều phải nộp thuế tài nguyên dé đảm bảo sự nhất quán, công bằng và tận thu thuế tài nguyên đóng góp vào nguồn NSNN. * Vai trò của thuế tài nguyên Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN Một nền tài chính lành mạnh phải dựa vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân. Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu ồn định trong nước, trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu trong hệ thống đòn bay của cơ chế mới. Nhờ có khoản đóng góp này, bộ máy nhà nước mới tồn tại và hoạt động được.
Ngay từ buổi sơ khai, thuế đã được sử dụng với mục tiêu quan trọng là tập trung thu nhập vào tay Nhà nước. Lich sử tồn tại va phát triển của thuế qua các thời kỳ và ở các nước cũng cho thấy: tỷ trọng thu bang thuế thường chiếm phan lớn trong tổng thu nhập của NSNN. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số thu băng thuế, phí chiếm trên 90% tổng số thu NSNN. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phan, hệ thống thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế.
Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của các doanh nghiệp va dân cư dé đảm bảo yêu cầu huy động được nhiều vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn trong giai đoạn hiện tại và phát triển lâu dai, góp phần kiềm chế và day lùi lam phát, ôn định kinh tế xã hội. Thuế tài nguyên trong hệ thống thuế nói chung, là khoản thu bắt buộc của Nhà nước đối với tổ chức hoặc cá nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan đến khai thác tài nguyên.