Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT. Chương 2: Thực trạng pháp luật thuế GTGT và thực tiễn thực thi pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE THUÊ GIÁ TRI GIA TANG VA PHAP LUAT THUE GIA TRI GIA TANG 1.
Những van dé lý luận về thuế giá tri gia tăng 1. Khải niệm Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một thuật ngữ bắt nguồn từ nước Pháp với tên gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tée (TVA) (Tiếng Anh là Value Added Tax - VAT), lần đầu được đề cập vào năm 1954 bởi một nhà kinh tế học người Pháp - Maurice Lauré và chính thức được áp dụng tại nước này vào ngày 10/4/1954. Sau đó, sắc thuế này đã nhanh chóng thê hiện được vai trò của mình khi trở thành một nguồn thu vô cùng quan trọng, chiếm tới gần 50% ngân sách của Pháp. Từ đó đến nay, có khoảng trên 130 quốc gia đã áp dụng thuế GTGT với hàng hoá và dịch vụ nước mình.
Về bản chất, thuế GTGT được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Số thuế được tính qua các khâu bằng số thuế tính trên giá bán cuối cùng khi đến tay người tiêu dùng, hay còn gọi là giá thành. Đây là loại thuế được đánh vào một giai đoạn chế tạo, sản xuất và lưu thông hang hoá từ nguyên liệu đầu và đến khi thành sản phẩm hoàn chỉnh và đưa vào thị trường tiêu thụ. Thuế GTGT thường được cộng ngay vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và chính người tiêu dùng sẽ phải chịu loại thuế đó khi mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ đó.
Thuế GTGT được áp dụng như một loại thuế gián thu, cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ nhằm đóng góp một phần thu nhập của người tiêu dùng khi mua bán, sử dụng các loại hàng hoá, dịch vụ chịu thuế vào NSNN. Tính gián thu này thé hiện ở chỗ “đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là hai chủ thé hoàn toàn khác nhau" [47]. Trên thực tế, người nộp thuế thông thường sẽ là người sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ nhưng người thực sự phải chịu thuế lại là người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ vì số tiền thuế đã nộp sẽ được cộng vào giá thành sản phâm mà người tiêu dùng phải chi trả. Các mặt hàng hoá, dich vụ càng được cung cấp nhiều thì số tiền thuế GTGT thu lại càng lớn, NSNN càng dồi dào.
Đồng thời loại thuế này còn giúp điều tiết tiêu dùng trong xã hội, hạn chế tình trạng trốn thuế do người sản xuất, kinh doanh là đều là những đối tượng dễ quản lý trong lĩnh vực thuế. Như vậy, có thê hiểu thuế GTGT là một loại thuế gián thu được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nhằm điều tiết hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Dac điểm của thuế giá trị gia tăng Từ khái niệm và ban chất của thuế GTGT, ta có thé rút ra được một số đặc trưng cơ bản của thuế GTGT như sau: Thứ nhất, thuế GTGT chỉ đánh vào gia tri tăng thêm cua hang hoá, dịch vụ trong từng công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá từ khâu nhập nguyên liệu đầu vào cho đến khi đến tay người tiêu dùng. Đây là một chu trình khép kín với các công đoạn đều được tính ra thuế GTGT.
Tổng số thuế cuối cùng sẽ là số thuế được thu từ các phân đoạn và được cộng thêm với các chi phí khác dé cấu thành nên giá bán sản phẩm. Việc đánh thuế chỉ dựa trên phần giá trị tăng thêm mà không phải là toàn bộ giá trị hàng hoá dịch vụ nên số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu trong quá trình lưu thông sẽ không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng [49, tr. Điều này có sự khác biệt với các loại thuế khác như: thuế xuất - nhập khâu (chỉ đánh ở giai đoạn xuất hoặc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ) hoặc thuế TTĐB (chỉ đánh ở giai đoạn sản xuất hoặc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ). Thứ hai, thuê GTGT có đối tượng chịu thuế rộng.
Moi chủ thé trong xã hội dù là tổ chức hay cá nhân, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chi trả thu nhập của minh dé thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội. Điều đó có nghĩa là, mọi đối tượng trong xã hội đều là chủ thể chịu thuế, thực tế phải trả một phần thu nhập do hành vi tiêu dùng. Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm vi lãnh thổ như vậy đã thé hiện rõ nét sự công bằng của thuế GTGT, đồng thời thé hiện thái độ của Nhà nước với các loại tiêu dùng trong xã hội. Theo đó, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc áp thuế suất thấp nhất với những hàng hoá, dịch vụ cần được khuyến khích tiêu dùng và áp dụng phương án ngược lại với các trường hợp hạn chế tiêu dung[49, tr.
Thứ ba, thué GTGT có tính trung lap, duoc thé hiện ở hai khía cạnh chính: (i) thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của chủ thé nộp thuế do người nộp thuế chỉ thay mặt cho người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN; (ii) thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tô chức và phân chia các giai đoạn của sản xuất kinh doanh bởi tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu [49, tr.163], bất kế số lượng giai đoạn là lớn hay nhỏ. Đây là điểm ưu việt của thuế GTGT so với thuế hàng hoá dịch vụ thông thường (thuế doanh thu) mà Việt Nam đã áp dụng trước đây. Với những đặc điểm như đã dé cập trên đây thì thuế GTGT đã thé hiện là một sắc thuế hiện đại, khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu, mang nhiều điểm tiến bộ, góp phần đơn giản hoa mức thuế suất, hạn chế tình trạng trốn thuế; tạo ra nguồn thu ôn định do chủ thé chịu thuế và đối tượng chịu thuế rộng; củng cố sự công bang xã hội khi đánh thuế cao vào các mặt hang xa xi nhưng lại hạ thuế thấp vào các mặt hàng tiêu dùng thông thường, từ đó phân phối lại thu nhập trong xã hội; tạo động lực cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ nâng cao hiệu suất hoạt động thông qua cơ chế khấu trừ thuế và miễn thuế đối với hàng hoá xuất khâu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Trước hết, thuế GTGT mang đầy đủ những sứ mệnh quan trọng của một loại thuế nói chung khi được ban hành va áp dụng trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, là công cụ tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN, quản lý và điều tiết nền kinh tế vi mô, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết thu nhập và thực hiện sự công bang xã hội.
Bên cạnh đó, loại thuê này còn có một sô vai trò riêng biệt, cụ thê như sau: Thứ nhất, thuế GTGT góp phần tích cực và công cuộc xây dựng nền kinh tế lành mạnh, công bang và bình đăng trong cạnh tranh giữa các chủ thé nộp thuế thông qua việc kê khai, cung cấp các hoá đơn, chứng từ có liên quan. Thuế GTGT giúp các cơ quan Nhà nước có thâm quyền quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khâu hàng hoá tốt hơn nhờ kiểm soát chặt chẽ hệ thống hoá đơn, chứng từ đầu vào và đầu ra có liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ được lưu thông tự do trên thị trường. Từ đó, đây lùi được tình trạng trốn thuế vốn đang là một van đề nhức nhối của Chính phủ các quốc gia. Đồng thời, góp phần quan trọng trong việc thu thập số liệu thống kê để phục vụ cho các cuộc nghiên cứu, điều tra xã hội học.
Thứ hai, thuế GTGT đề cao tính tự giác và nghiêm túc chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ của các chủ thé nộp thuế do chính những người này sẽ phải tự thực hiện các công việc như kiểm tra, hạch toán, kê khai và nộp thuế tại các cơ quan nhà nước có thâm quyền. Từ đó, những doanh nghiệp hoặc cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế sẽ cảm thấy thoải mái vì không phải thoả thuận về mức doanh thu hay mức thuế đối với các cơ quan thuế. Đồng thời, việc này cũng đòi hỏi các đơn vị sản xuất, kinh doanh và cung ứng hàng hoá, dịch vụ buộc phải lưu giữ toàn bộ hoá đơn, chứng từ có liên quan đến hoạt động thực tế của mình nên việc thu thuế cũng đễ dàng và sát sao ngay từ khâu sản xuất, hạn chế tình trạng that thu thuế [16]. Thứ ba, thuế GTGT góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng đối với thị trường trong nước khi thuế này được áp dụng đối với các mặt hàng nhập khâu ngay khi chúng hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia.
Các DN nội địa sẽ không phải lo lang về sự chênh lệch trong giá cả hàng hoá nội địa so với hàng hoá nhập khẩu, từ đó góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý. Thêm vào đó, thuế GTGT còn tạo động lực cho các DN thưc hiện việc xuất khẩu hàng hoá mạnh mẽ ra nước ngoai thông qua việc áp dụng thuế suất 0% và chính sách hoàn thuế GTGT đối với các nguyên liệu đầu vào. Khi hàng hoá xuất khẩu được giảm thuế thì chi phí, giá thành san phẩm đều giảm, từ đó tăng khả năng cạnh tranh đối với các hàng hoá dịch vụ xuất khâu 10 tại thị trường nước ngoài. Thứ tư, thuế GTGT được ban hành làm đa dạng hoá các sắc thuế, góp phần sửa đổi, bố sung và hoan thiện chính sách liên quan đến một số loại thuế khác như: thuế TTDB, thuế xuất - nhập khẩu, thuế TNDN.
Điều này giúp cho hệ thống pháp luật về thuế của các quốc gia trở nên tiến bộ, vận động một cách tích cực theo xu hướng chung của nền kinh tế thị trường và tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn đồi dao nhằm phát triển nền kinh tế chung của đất nước. Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế giá tri gia tăng 1.