chương ITO và công nhận hiệp định GATT. Kể từ đó, Hiệp định GATT đã được đổi mới và tu chỉnh nhiều lần cho phù hợp với hoàn cảnh thương mại quốc tế trở nên ngày càng đa dạng và phức tạp.2/ Mục đích – nguyên tắc Mục đích của GATT thông qua các cuộc đàm phán để mở đường cho mậu dịch tự do, giảm thiểu những hạn chế, ràng buộc có tính chất bất công và bất hợp lý, làm thiệt hại đến quyền lợi của các quốc gia. Những nguyên tắc cơ bản hoạt động của GATT là: + Khuyến khích và phát triển quan hệ thương mại đa phương giữa các quốc gia trên nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử. + Sự giảm bớt thuế XNK phải được thực hiện thông qua đàm phán.
+ Loại bỏ các quota nhập khẩu. + Loại bỏ những điều quy định giới hạn khác có tính chất ưu đãi nước này và không ưu đãi nước khác, đồng thời cho phép hướng đến một nền thương mại quốc tế có tính chất tự do.3/ Nội dung cơ bản GATT bao gồm 38 điều khoản, tập trung chủ yếu vào 4 phần dưới đây: Phần 1: Các quy chế về chế độ tối huệ quốc ( Most Favoured Nation) và các nhượng bộ thuế XNK. Phần 2: Các nguyên tắc, quy chế và tiêu chuẩn pháp lý để điều chỉnh hệ thống chính sách thương mại. Phần 3: Các thủ tục liên quan đến hoạt động của GATT, Phần 4: Các điều kiện tham gia của các nước đang phát triển và GATT.
9 123doc - 10 - Ngoài ra còn có phần phụ chương bao gồm các nhận xét, thuyết minh và các điều kiện bổ sung phù hợp với các điều khoản của hiệp định, được coi là bộ phận của văn kiện, cơ sở của hiệp định. Xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay 1.1/ Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Mỗi quốc gia luôn chứa đựng trong mình một tiềm năng kinh tế nhất định, nhưng không phải đã đầy đủ và hoàn thiện. Có quốc gia có lợi thế so sánh về mặt này nhưng lại yếu mặt khác.
Nếu không hội nhập thì điểm mạnh của mỗi quốc gia sẽ không được phát huy một cách hiệu quả nhất và đồng thời không khắc phục, bổ khuyết được những điểm yếu, hạn chế.2/ Hội nhập kinh tế phải gắn liền với cắt giảm thuế XNK Cần phân biệt hội nhập kinh tế quốc tế với quan hệ kinh tế quốc tế. Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể các mối quan hệ đối ngoại của các nước. Biểu hiện cụ thể của quan hệ kinh tế quốc tế là việc trao đổi buôn bán giữa các nước nhằm khai thác lợi ích của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mỗi nước là một thị trường riêng biệt và thị trường này được bảo vệ bởi công cụ thuế XNK do nhà nước qui định.
Nhà nước sẵn sàng can thiệp và can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế thông qua chính sách thuế XNK để bảo vệ nền sản xuất nội địa khi cần thiết. Vì vậy, những lợi ích của thương mại quốc tế có khi chưa được khai thác một cách triệt để. Trong điều kiện hiện nay, các nước ngày càng thấy được tầm quan trọng và lợi ích của thương mại quốc tế thì quan hệ kinh tế quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới, đó là hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế cũng là những quan hệ kinh tế mà kết quả là tạo ra các thị trường thương mại tự do mang tính khu vực (như AFTA, APEC, NAFTA.) và thế giới (WTO).
Cơ sở của hội nhập kinh tế dựa trên sự tự nguyện cam kết cắt giảm, xoá bỏ hàng rào thuế XNK vốn ngăn cản tự do thương mại. Bất kỳ một nước nào muốn tham 10 123doc - 11 - gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế đều phải trải qua giai đoạn đàm phán để cắt giảm thuế XNK với các nước thành viên. Do đó, ta có thể nói rằng, nếu hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan thì việc cắt giảm, xóa bỏ các hàng rào thuế XNK cũng là một quá trình tất yếu trong xu hướng hội nhập của mỗi nước. Và hiện nay, các nước đều xây dựng cho mình một lộ trình cắt giảm thuế XNK phù hợp với những nguyên tắc và cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế./ Các nhân tố ảnh hưởng Căn cứ theo hướng dẫn tại Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Căn cứ số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan, trị giá tính thuế và thuế suất từng mặt hàng để xác định số tiền thuế phải nộp theo công thức sau: Số lượng đơn vị Số tiền thuế Trị giá tính Thuế từng mặt hàng thực xuất khẩu, thuế tính suất của = tế xuất khẩu, nhập x x thuế nhập trên một đơn từng mặt khẩu ghi trong Tờ khẩu phải nộp vị hàng hóa hàng khai hải XNK Nguồn thu thuế xuất nhập khẩu được ảnh hưởng bởi 05 nhân tố sau: - Theo công thức trên, 03 nhân tố là số lượng đơn vị nhập khẩu, thuế suất nhập khẩu và giá nhập khẩu; giả sử trong điều kiện giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu không thay đổi thì 02 nhân tố ảnh hưởng còn lại đó là lượng hàng nhập khẩu và thuế suất của mặt hàng nhập khẩu.
- Ngoài 03 nhân tố nêu trên, Chính phủ Việt Nam còn áp dụng thêm 02 chính sách thuế đánh trên hàng hoá khâu nhập khẩu là thuế tiêu thụ đặt biệt và thuế giá trị gia tăng nhằm tránh việc giảm số thu NSNN quá nhanh khi cắt giảm thuế theo lộ trình. 11 123doc - 12 - - Bên cạnh đó, mức độ ý thức và tuân thủ chấp hành tốt pháp luật của các doanh nghiệp cũng là 01 trong các nhân tố hạn chế việc thất thu ngân sách nhà nước. Trong trường hợp thực hiện các cam kết cắt giảm thuế XNK đối với hàng hóa nhập khẩu (thuế XNK chỉ là 01 trong 05 nhân tố ảnh hưởng đến thuế NSNN). Việc cắt giảm thuế suất XNK theo lộ trình cam kết chắc chắc số thu thuế từ NSNN sẽ giảm, tuy nhiên khi cắt giảm thuế XNK sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khối lượng hàng hóa nhập khẩu tăng cao dẫn đến kim ngạch nhập khẩu tăng cao ( kim ngạch tăng ở đây 01 phần do chính sách thuế XNK thuận lợi nhưng phần lớn số kim ngạch tăng là do kinh tế của Việt Nam phát triển), như vậy trong trường hợp số lượng hàng hóa nhập khẩu cao hơn mức thuế suất giảm trung bình theo lộ trình cam kết thì NSNN không giảm theo như nhiều nhận định mà có chiều hướng tăng./ Mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch Theo các lý thuyết về tự do thương mại, có thể phân tích tác động của các quốc gia nhỏ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới theo mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch và là quốc gia nhỏ nên việc nhập khẩu hàng hóa không làm ảnh hưởng giá thế giới.
Có thể xem tác động của thuế XNK thông qua mô hình cơ bản sau đây ( Xem hình 1.1 – Tác động của thuế XNK. Giá Sx E J H S1+T G B A S1 C M N Dx Q1 Q2 Q3 Q4 Số lượng 12 123doc - 13 - Lúc đầu, Chính phủ đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu, biểu đồ S1+T là đường cung hàng nhập khẩu khi có thuế, S1 là đường cung co giãn hoàn toàn trong tình trạng mậu dịch tự do. Với mức giá có thuế nhập khẩu, sản lượng hàng hóa tiêu thụ sẽ là Q3, trong đó sản phẩm trong nước là Q2, nhập khẩu ( Q3-Q2), nhà nước sẽ thu được khoản thuế tương ứng hình chữ nhật MNHJ. Khi cắt giảm thuế theo cam kết, nhà nước mất đi khoản thu này.
Lúc này, do giá hàng hóa nhập khẩu giảm làm số sản phẩm tiêu thụ tăng lên Q4, trong đó Q1 là sản xuất trong nước, còn (Q4-Q1) là nhập khẩu từ nước ngoài. Lợi ích người tiêu dùng ở nước nhập khẩu nhờ liên hiệp thuế quan tự do thương mại là AGHB, trong đó AGJC biểu thị cho việc giảm lợi tức hoặc thặng dư nhà sản xuất, trong khi MNHJ biểu thị cho phần thuế mất đi. Hai tam giác CJM và BHN là lợi ích tĩnh, trong đó: CJM là phần sản phẩm phúc lợi từ việc tạo lập mậu dịch, kết quả của việc di chuyển sản xuất từ các nhà sản xuất kém hiệu quả nước nhập khẩu sang các nhà sản xuất hiệu quả hơn ở quốc gia xuất khẩu; BHN là phần lợi ích tiêu dùng từ việc tạo lập mậu dịch và kết quả việc gia tăng tiêu thụ (Q4-Q3) ở quốc gia nhập khẩu. Việc đánh thuế XNK sẽ tạo nguồn lợi cho chính phủ, nhà sản xuất trong nước cũng thu được lợi ích do được bảo hộ, giảm thuế, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, tuy nhiên người tiêu dùng sẽ bị thiệt hại do phải mua hàng nhập khẩu với giá cao trên thị trường trong nước; đồng thời xã hội bị thiệt hại một phần do một số nguồn lực bị sử dụng lãng phí (mất không) và một phần nữa do có một khối lượng hàng hóa nhập khẩu với giá cao không sử dụng được.
Nếu bãi bỏ thuế XNK thì những khoản lợi ích bị giảm xuống, chuyển từ nhà sản xuất, chính phủ và phần mất trắng của xã hội sẽ rơi vào tay của người tiêu dùng. Theo cách xem xét này, lợi ích của xã hội tăng lên mặc dù lợi ích của các chủ thể có sự tăng giảm khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân để các nước muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất cắt giảm thuế XNK, tăng cường buôn bán và đẩy mạnh tự do hóa thương mại. Do đó, có thể thấy việc tham gia vào xu hướng tự do hóa thương mại làm thay đổi cơ bản lợi ích cục bộ của các chủ 13 123doc - 14 - thể nghĩa là có thể gây ra những xáo trộn nhất định song lại mang lại lợi ích to lớn về lâu dài.2 – Đường cong Laffer.
Nguồn thu thuế nhập khẩu Max Min 0% 50% 25% Theo hình 1.2, theo phân tích cân bằng cục bộ về tác động của thuế XNK đối với một nước nhỏ, diện tích hình chữ nhật MNJH đo lường nguồn thu của chính phủ từ thuế XNK.