Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và Thảo luận Chương 5. Kết luận và Khuyến nghị 123doc 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. HÀNH VI TRÁNH THUẾ 2.
Khái niệm hành vi tránh thuế Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý luôn có động cơ để thực hiện hành vi tránh thuế nếu lợi ích từ hành vi này1 lớn hơn chi phí có thể xảy ra2. Chính vì vậy, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hành vi tránh thuế không chỉ thu hút các nhà quản lý, các cổ đông mà còn được các nhà hoạch định chính sách, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính quan tâm. Cũng chính vì lý do đó, mà đến nay đã có nhiều nghiên cứu về hành vi tránh thuế được thực hiện, cũng như tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau xoay quanh khái niệm này. Thuật ngữ tránh thuế trong tiếng Anh cũng được thể hiện bằng các cụm từ khác nhau như tax aggressiveness, tax avoidance, tax management, tax planning, tax shelters.
Nhiều tác giả xem các cụm từ trên là khác nhau nhưng đa phần các tác giả đều xem các cụm từ này cùng có nghĩa là tránh thuế. Theo Rego (2003), Chen & cộng sự (2010), hành vi tránh thuế là các hành vi làm giảm thu nhập tính thuế thông qua hoạt động lập kế hoạch thuế. Hoạt động lập kế hoạch thuế có thể là các hoạt động hợp pháp, không hợp pháp, hoặc cũng có thể rơi vào vùng xám (vùng giao thoa giữa hợp pháp và không hợp pháp). Hành vi tránh thuế cũng có thể là một chuỗi liên tục các hành vi rơi vào vùng xám.
Ngược lại, Frischmann, Shevlin & Wilson (2008) cho rằng hành vi tránh thuế được thực hiện khi thuế đóng một vị trí quan trọng trong khi các biện pháp quản lý lại lỏng lẻo. Cụ thể hơn, Lisowsky, Robinson & Schmidt (2010) chỉ ra rằng hành vi tránh thuế là một tập hợp các hoạt động nhằm tránh bị đánh thuế 1 Như giảm được thuế phải đóng, tăng dòng tiền, duy trì xếp hạng tín dụng ở mức cao 2 Như chi phí kiểm toán và kiện tụng, các khoản phạt, thiệt hại danh tiếng 123doc 7 được thực hiện liên tục bắt nguồn từ việc lập kế hoạch thuế đúng với pháp luật, thông qua việc sử dụng các công ty ở nước ngoài (các công ty vỏ bọc), hoặc ở các thiên đường thuế3. Trong khi đó, một số tác giả xem hành vi tránh thuế là một phần của chiến lược quản trị doanh nghiệp (Desai & Dharmapala, 2006; Rego, 2003). Hành vi tránh thuế có liên quan đến việc sắp xếp hoặc cấu trúc lại nhằm tận dụng các lỗ hổng trong luật thuế và phạm vi quyền hạn cho phép để giảm số tiền thuế thu nhập phải trả (Lisowsky, 2010; Wilson, 2009).
Do thuế thu nhập là một trong những chi phí đáng kể của doanh nghiệp nên các nhà quản lý doanh nghiệp có động cơ để thực hiện các chiến lược nhằm giảm số tiền thuế phải nộp để đáp ứng các nhu cầu về vốn khác của doanh nghiệp. Tóm lại, mặc dù được diễn giải bằng những từ ngữ khác nhau với những cách diễn đạt khác nhau nhưng tránh thuế có thể hiểu là các hành vi làm giảm thu nhập tính thuế bằng các hành vi có chủ định từ trước mà vẫn đúng quy định của pháp luật. Theo đó, tránh thuế được thực hiện bằng cách khai thác những quy định chưa chắc chắn, rõ ràng, những biến động trong chính sách thuế, hoặc các kỹ thuật kế toán nhằm giảm thiểu số tiền thuế phải nộp. Do đây là hành vi chủ định của của nhà quản lý nên mức độ thực hiện hành vi tránh thuế dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích biên và chi phí biên khi thực hiện hành vi tránh thuế.
Cụ thể, lợi ích biên thể hiện ở số tiền thuế có thể tiết kiệm được và chi phí biên bao gồm cả thời gian, công sức, chi phí giao dịch, các khoản phạt tiềm tàng của cơ quan thuế, chi phí duy trì uy tín của công ty và sự sụt giảm giá cổ phiếu trong trường hợp công ty có thông tin xấu liên quan đến thuế (Chen & cộng sự, 2010). 3 Thiên đường thuế được hiểu là khu vực mà về mặt pháp lý mức thuế được ấn định rất thấp hoặc bằng 0 và các thủ tục pháp lý như thủ tục đăng ký thành lập công ty khá đơn giản và nhanh chóng. Các hành vi tránh thuế thường gặp Trong thực tế, hành vi tránh thuế không chỉ được phát hiện trong thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn bắt gặp trong thuế thu nhập cá nhân, thuế nhập khẩu, thuế trước bạ. Một số hành vi tránh thuế thường gặp tại Việt Nam như: Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) - Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp làm tăng chi phí trong kỳ.
- Chọn đăng ký phương thức khấu hao (phương thức đường thẳng; theo số dư giảm dần có điều chỉnh; hay theo số lượng, khối lượng sản phẩm) tùy theo dự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ. - Doanh nghiệp đi vay tiền chịu lãi để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và đưa tiền lãi đó vào chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thay vì yêu cầu cổ đông, thành viên góp vốn tự đi vay tiền để góp vốn điều lệ. Thuế thu nhập cá nhân - Chọn đối tượng nộp thuế là vợ hoặc chồng tùy theo thu nhập cao thấp của từng người trong việc kê khai giảm trừ gia cảnh đối với số người phụ thuộc trong gia đình nhằm mục đích giảm số thuế phải trả. - Doanh nghiệp không trả lương cho các cổ đông cá nhân tham gia hoạt động quản lý doanh nghiệp (thuế suất tối đa đối với tiền lương, tiền công chịu thuế TNCN ở mức 35%) để cổ đông nhận được cổ tức cao hơn (DN chỉ đóng thuế thuế TNDN 20% trên thu nhập trước thuế và cổ đông cá nhân đóng 5% thuế TNCN trên cổ tức nhận được).
Thuế nhập khẩu: nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ những nước có ký các hiệp định về ưu đãi thuế quan với Việt để được hưởng mức thuế suất thấp. 123doc 9 Thuế trước bạ: mua trước hay mua sau một mốc thời gian quan trọng nhất định đối với một số loại hàng hóa hay dịch vụ để tận dụng việc tăng hay giảm của mức thuế trước bạ dành cho loại hàng hóa hay dịch vụ đó. Trên đây là một số hành vi tránh thuế thường gặp tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hành vi tránh thuế TNDN.
Sau đây cụm từ “hành vi tránh thuế” hàm ý “hành vi tránh thuế TNDN”. Phương pháp đo lường hành vi tránh thuế Tương tự với khái niệm tránh thuế, việc đo lường hành vi tránh thuế cũng tồn tại nhiều phương pháp khác nhau. Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên các công ty vỏ bọc, thiên đường thuế Đầu tiên, dựa trên quan điểm hành vi tránh thuế thông qua các công ty vỏ bọc ở nước ngoài, hoặc ở các thiên đường thuế, Wilson (2009) đã đưa ra cách đo lường hành vi tránh thuế theo mô hình SHELTER như sau: SHELTER = – 4.56 * RD Trong đó: - BTD (book-tax difference): chênh lệch thuế theo giá trị sổ sách, được tính bằng cách lấy hiệu số giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế chia cho tổng tài sản; - LEV: tỷ số giữa nợ dài hạn và tổng tài sản; - SIZE: quy mô công ty, được tính bằng logarit của tổng tài sản; - ROA: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, được tính bằng thu nhập ròng chia tổng tài sản; - FOREIGN_INCOME: biến giả, bằng 1 nếu công ty có thu nhập ở nước ngoài, ngược lại bằng 0; - RD: tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) trên tổng tài sản. 123doc 10 Theo Wilson (2009), chỉ số SHELTER càng cao thì khả năng công ty có hành vi tránh thuế càng lớn.
Cả Kim & cộng sự (2011), Rego & Wilson (2012) đều đồng ý rằng mô hình của Wilson (2009) đã xây dựng là hợp lý. Tuy nhiên hoạt động tạo các công ty vỏ bọc hoặc thiên đường thuế là một hoạt động giao dịch mang tính chất đơn lẻ, nên mô hình của Wilson (2009) không phản ảnh đầy đủ tất cả các hoạt động tránh thuế của một công ty. Đo lường hành vi tránh thuế dựa trên khe hở thuế theo sổ sách (Book-tax gap BTG) Theo Desai & Dharmapala (2006); Lisowsky (2010); Manzon & Plesko (2001); Rego & Wilson (2012); Wilson (2009) đo lường hành vi tránh thuế bằng BTG là một cách đo lường hiệu quả, bởi có sự khác biệt lớn giữa thu nhập tính thuế theo quan điểm của kế toán và quan điểm của thuế làm xuất hiện hành vi tránh thuế. Ví dụ, Mills (1988) nhận thấy rằng các công ty có các khe hở thuế càng lớn thì càng phải thực hiện các điều chỉnh kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán quốc tế IRS, điều này cho thấy mức độ tránh thuế của công ty.
Thực tế, các công ty có thể cấu trúc lại các giao dịch để tạo ra các chênh lệch tạm thời hay chênh lệch vĩnh viễn khi xác định thu nhập tính thuế theo quan điểm của thuế và quan điểm của kế toán. Ví dụ, sử dụng chi phí khấu hao có thể tạo ra chênh lệch tạm thời, trong khi đó các khoản tín dụng R&D có thể tạo ra chênh lệch vĩnh viễn. Khe hở thuế được tạo ra một phần do mục đích “làm đẹp” các báo cáo thu nhập theo thời gian để đạt được một mục tiêu lợi nhuận nào đó, tránh báo cáo lỗ và đạt được các mục tiêu khác (Desai & Dharmapala, 2006), và phần còn lại, được suy ra, do mục đích tránh thuế. Manzon & Plesko (2002) đã đưa ra một cách xác định BTG là tổng chênh lệch giữa thu nhập kế toán trước thuế và thu nhập tính thuế, khi đó phát sinh chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn, thể hiện công ty đang thực hiện tránh thuế: Thu nhập kế toán trước thuế − thu nhập tính thuế BTG = Tổng tài sản đầu năm 123doc 11 Trong đó: Chi phí thuế TNDN hiện hành Thu nhập tính thuế = Thuế suất theo quy định Theo Manzon & Plesko (2002), BTG càng lớn sẽ thể hiện mức độ tránh thuế càng cao.