CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 1.1 Khủng hoảng tài chính theo một số trường phái kinh tế Khủng hoảng tài chính được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho nó không thể thực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: Ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chính như một phương tiện giao dịch, cất trữ tài sản; Trung gian chuyển vốn tiết kiệm vào những dự án đầu tư có hiệu quả nhất. Hệ quả là nền kinh tế bị đẩy ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm với giảm phát, hoặc gây nguy cơ bùng nổ lạm phát. Có thể chia ra ba quan điểm chính về khủng hoảng tài chính: Nhóm thứ nhất là những người theo chủ thuyết tiền tệ (Monetarists View), dẫn đầu là Friedman và Schwartz (1963). Họ cho rằng, khủng hoảng tài chính là do sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn đến sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.
Họ bỏ qua những nguyên nhân thực, như sự sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế, sự suy sụp của nhiều doanh nghiệp. Vì vậy, theo họ sự can thiệp của chính phủ là không cần thiết, và thậm chí có hại, vì những doanh nghiệp đáng ra phải để cho bị phá sản, lại có thể được cứu vớt, gây nên sự gia tăng quá mức về cung tiền tệ và gây nên lạm phát. Đối lập với nhóm theo chủ thuyết tiền tệ là Keynesian View, dẫn đầu là Kindleberger (1978) và Misky (1972). Họ có quan niệm rộng hơn về khủng hoảng tài chính và tiền tệ, mà nó bao gồm sự sụt giảm của hầu hết giá trị cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều công ty tài chính và phi tài chính, nạn giảm phát, đi kèm với sự rối loạn của thị trường ngoại hối.
Những yếu tố này gây sự sụt giảm mạnh về tổng cầu đầu tư và tiêu dùng, nên cần phải có sự can thiệp của nhà nước. Điều đáng nói là họ không đưa ra một đặc trưng rõ ràng về nguồn gốc của khủng hoảng, để làm tiền đề cho một chính sách kích thích có hiệu quả. Vì vậy, sự can thiệp của chính phủ rất dễ dẫn đến 123doc 5 lạm phát và trì trệ, như những người theo chủ thuyết tiền tệ đã lưu ý. Nhóm thứ ba nhấn mạnh tới bản chất rủi ro của hoạt động tài chính, dẫn đầu là Stiglitz và Weiss (1981).
Theo họ hoạt động của hệ thống tài chính, đặc biệt là ngân hàng, chịu rủi ro cao, do ngân hàng đầu tư hay tổ chức cho vay thường không nắm rõ thông tin về khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro của dự án đầu tư bằng cá nhân hay tổ chức đi vay; tức là những người chủ dự án. Sự khác biệt này về thông tin, hay sự thiếu minh bạch về thông tin các dự án, khiến cho hệ thống tài chính có thể có vấn đề, bởi vì rằng: Ngân hàng có thể muốn ép lãi suất thực, cộng các phí dịch vụ cho vay tăng lên để bù cho rủi ro mất vốn có thể xẩy ra. Nhưng điều này lại khiến cho chỉ có những dự án có độ rủi ro cao nhất mới hy vọng có đủ khả năng sinh lãi đủ cao để trả nợ, nếu may mắn thành công. Ngược lại, nếu đó là dự án của những doanh nghiệp vừa và nhỏ, với độ rủi ro ít (nhưng cũng chính vì vậy mà mức sinh lãi thấp hơn), thì sẽ khó có thể đi vay được vốn.
Vì vậy, khi lãi suất cho vay tăng lên thì: - Sẽ có một tỷ lệ lớn hơn những chủ của các dự án với độ rủi ro cao hơn (như đầu cơ vào bất động sản, chứng khoán thời bong bóng) đi săn lùng vốn vay. Trong khi đó, những doanh nhiệp vừa và nhỏ, với những nhà đầu tư cẩn trọng, sẽ bị loại ra khỏi danh sách các ứng viên. Người ta gọi đây là sự chọn lầm phải điều nguy hại (adverse selection), theo Akerlof (1974). - Với những chủ dự án lớn đã vay được vốn, thì họ có xu hướng làm thay đổi bản chất dự án hay mục đích sử dụng vốn vay, khiến cho dự án mang tính đầu cơ cao hơn (hoặc có vẻ quan trọng hơn, để nhà nước không thể để cho bị thất bại).
Do vậy, họ có thể giàu lên nhanh chóng, nếu việc đầu cơ thành công; và để mặc cho ngân hàng chịu tích tụ những khoản nợ xấu; hay xã hội phải gánh vác tổn thất qua gánh nặng cứu trợ ngân sách; nếu dự án bị thất bại. Người ta gọi đây là hiểm họa do sự vô trách 123doc 6 nhiệm. Chính vì những lý do trên đây, những người theo trường phái kinh tế học thể chế (institutional economics) cho rằng, hoạt động của ngân hàng nói riêng, và hệ thống tài chính nói chung, phải được giám sát hết sức cẩn trọng, nhằm hướng các giao dịch tới sự an toàn (Aoki, 1991; Mc Kinnon, 1991). Ví dụ, với những dự án có độ rủi ro rất cao (nhưng cũng có thể là những cơ hội đầu tư có tiềm năng nhất về hiệu quả, chứ không phải đầu cơ), thì cần phải có những quỹ đầu tư đặc biệt nhằm thẩm định, giám sát, rót vốn ban đầu, và lập cơ chế chia sẻ rủi ro.
Chẳng hạn như các quỹ đầu tư mạo hiểm (vetunture capital funds). Theo Stiglitz-Weiss, do rủi ro chọn lầm và hiểm họa của sự vô trách nhiệm (adverse selection and moral hazard), hệ thống các ngân hàng kinh doanh bằng cho vay lấy lãi, phải bị hạn chế, không được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư có độ rủi ro quá cao này. Ngoài sự phân loại chức năng các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, và các quỹ đầu tư theo mức độ rủi ro của từng lĩnh vực đầu tư, thì còn cần phải có nhiều tổ chức trung gian khác, làm chức năng giám sát và cảnh báo rủi ro. Chẳng hạn như các tổ chức xếp hạng (rating companies), mà chúng thường xuyên theo dõi sự thay đổi trạng thái tài chính của các công ty tài chính và phi tài chính.
Sự xếp hạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của các công ty trong việc gây quỹ từ thị trường vốn hay thị trường chứng khoán. Nhìn chung, cho dù thuộc trường phái kinh tế nào, thì vẫn có một sự nhất trí rằng, hệ thống tài chính cần phải được giám sát chặt chẽ, do tính phức tạp và rủi ro của hoạt động này. Và việc thiếu sự quản lý, giám sát luôn dẫn đến bong bóng đầu cơ. Tuy nhiên, chỉ khi mất cân đối vĩ mô trở nên rất nghiêm trọng, thì bong bóng đầu cơ mới có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và kinh tế trên quy mô lớn.
123doc 7 Những nhà đoạt giải thưởng Nobel kinh tế đã phát biểu quan điểm này bao gồm: Paul Krugman, Edmund S. Phelps, Reinhard Selten, và Josep Stiglitz. Họ nhấn mạnh rằng, khủng hoảng là có thể tránh né được, nếu có một hệ thống giám sát tài chính và cảnh báo rủi ro tốt. Vì vậy, họ cho rằng, không phải cứ tự nhiên, là phải có sự can thiệp của chính phủ qua các gói kích thích, nếu như không hiểu rõ khiếm khuyết gì trong thể chế tài chính đã đẩy đến khủng hoảng.2 Các dạng của khủng hoảng tài chính: Khủng hoảng do chính sách vĩ mô kéo theo: Do thâm hụt ngân sách, để bù đắp vào khoản thâm hụt này Chính phủ phát hành tiền.
Trong khi đó, Chính phủ vẫn muốn duy trì chính sách tỷ giá cố định, vì vậy Chính phủ phải sử dụng dự trữ ngoại hối để bảo vệ đồng nội tệ làm cho lượng ngoại hối giảm kéo theo giảm khả năng thanh toán của quốc gia gây ra khủng hoảng. Khủng hoảng do hoảng loạn tài chính: Khi các chủ nợ cho vay ngắn hạn rút lại các khoản cho vay đối với người vay không có khả năng chi trả, tâm lý bầy đàn kéo theo làm khủng hoảng càng trầm trọng hơn. Khủng hoảng do tâm lý ỷ lại: Các tổ chức tài chính được bảo lãnh ngầm (họ cho rằng Nhà nước không thể để họ phá sản, vì như thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người gửi tiền hoặc người cho các tổ chức tài chính vay) do đó họ đầu tư các dự án có tính rủi ro cao. Bong bóng bể: Đây là hệ quả của khủng hoảng do tâm lý để lại, với tâm lý ỷ lại và đầu tư rủi ro cao vô hình chung làm tăng giá trị tài sản (tăng ảo) tạo cho nhà đầu tư kỳ vọng vào mức lợi nhuận của sự tăng giá tài sản nhưng thực tế không diễn ra như vậy, đến một lúc nào đó, nền kinh tế không chịu nổi áp lực của tăng giá tài sản kéo theo sự đổ vỡ của nền kinh tế.
123doc 8 Rút vốn ồ ạt và thất bại trong phối hợp: Các nhà đầu tư rút vốn đồng loạt do mất niềm tin vào các tổ chức tài chính, điều này ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tài chính đang hoạt động có hiệu quả hoặc các tổ chức đang gặp một số trục trặc nhưng vẫn tồn tại được. Khủng hoảng tài chính thường kéo theo khủng khoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng, và khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng đi kèm với nhau, các nhà kinh tế gọi nó là “khủng hoảng kép”. Tác động của khủng hoảng tài chính Khủng hoảng kinh tế không những gây ra những tác động xấu đến nền kinh tế ở mỗi nước mà còn ảnh hưởng đến các nước khác ở trong khu vực và thế giới. Nó kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế trong một thời gian dài, mà thậm chí một số nền kinh tế còn tăng trưởng âm.